b41.png

Áp lực tăng giá ngày công và sự khan hiếm nhân công ngành xây dựng hiện nay đang phát đi một tín hiệu kinh tế rõ ràng: thời kỳ cạnh tranh bằng mô hình "lao động rẻ – công nghệ thấp" đã chính thức khép lại. Muốn vừa bảo đảm tiến độ các dự án, vừa giữ vững an toàn tài chính cho doanh nghiệp, lời giải bắt buộc phải đến từ cuộc cách mạng kép: đổi mới tư duy quản lý chi phí công và tạo đột phá về năng suất lao động.

Từ việc hoàn thiện khung pháp lý chia sẻ rủi ro hợp đồng, số hóa nguồn cung qua mô hình "ngân hàng lao động", đào tạo nghề theo đơn đặt hàng, cho đến công nghiệp hóa tiền chế và ứng dụng BIM – bài viết sẽ bóc tách những giải pháp chiến lược nhằm khơi thông dòng chảy nhân lực, mở ra con đường phát triển bền vững cho ngành xây dựng Việt Nam.

b421.png

Nút thắt đầu tiên cần cởi bỏ nằm ở chính sách quản lý chi phí đầu tư xây dựng. Trong nhiều năm, tư duy quản lý chi phí công thường bị đóng khung trong quan niệm cố gắng giữ dự toán ở mức thấp nhất có thể.

Tuy nhiên, theo PGS.TS Ngô Trí Long – Chuyên gia kinh tế, Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam, dự toán càng xa rời thị trường thì rủi ro cuối cùng càng quay trở lại đè nặng lên chính dự án. Ban đầu có thể tưởng ngân sách tiết kiệm được vài phần trăm, nhưng nếu nhà thầu kiệt quệ tài chính, thi công cầm chừng, chậm tiến độ hoặc buộc phải hủy thầu để đấu thầu lại, chi phí xã hội phát sinh cuối cùng sẽ lớn hơn gấp nhiều lần. Quản lý chi phí công hiện đại phải giải quyết đồng thời hai mục tiêu: giá phải đủ linh hoạt để phản ánh thị trường, nhưng ngân sách phải được kiểm soát chặt chẽ để chống thất thoát.

Khung pháp lý năm 2026 đã tạo ra những bước ngoặt mang tính nền tảng. Nghị định 206/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/7/2026 đã quy định lại toàn diện việc quản lý tổng mức đầu tư, dự toán, giá vật liệu, nhân công, máy thi công và chỉ số giá xây dựng. Đi cùng với đó, Thông tư 36/2026/TT-BXD hướng dẫn chi tiết việc xác định và điều chỉnh dự toán, trong khi Thông tư 37/2026/TT-BXD chuẩn hóa phương pháp xác định giá nhân công mới để các Sở Xây dựng tổ chức khảo sát và công bố chậm nhất từ ngày 1/1/2027.

xanh-trang-do-hien-dai-bao-cao-tong-ket-kinh-doanh-cong-ty-bai-thuyet-trinh-7.png

Để các quy định mới thực sự đi vào đời sống công trường, các chuyên gia kinh tế cho rằng cần kích hoạt ngay 4 giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, rút ngắn tối đa độ trễ của dữ liệu giá. Tại các địa phương có mật độ xây dựng cao hoặc biến động lớn, Sở Xây dựng không thể duy trì chu kỳ khảo sát giá nhân công kéo dài cả năm. Việc thiết lập cơ sở dữ liệu số hóa, cập nhật giá nhân công và máy thi công định kỳ theo tháng hoặc theo quý dựa trên khảo sát thực chất theo vùng, nghề, bậc thợ và điều kiện thi công là yêu cầu cấp thiết.

Thứ hai, minh bạch hóa việc điều chỉnh hợp đồng theo Nghị định 210/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.

GS.TS Mạc Quốc Anh – Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP Hà Nội (HANOISME), Viện trưởng Viện Kinh tế và Phát triển Doanh nghiệp lưu ý: các bên khi ký kết hợp đồng cần đưa vào điều khoản xác định rõ thời điểm gốc, tỷ trọng chi phí nhân công, nguồn chỉ số giá và kỳ điều chỉnh. Việc điều chỉnh phải có dữ liệu kiểm chứng, áp dụng theo cả hai chiều tăng bù, giảm trừ. Đặc biệt, quyền lợi này phải được quy định rõ trong hợp đồng thầu phụ để bảo vệ các nhà thầu nhỏ trực tiếp đổ mồ hôi trên công trường.

Thứ ba, kiểm soát thất thoát bằng dữ liệu thay vì "đóng băng giá". Cơ quan thanh tra, kiểm toán cần chuyển trọng tâm từ việc soi xét cơ học đơn giá thấp sang kiểm tra tính xác thực của hóa đơn, hợp đồng lao động, bảng thanh toán lương và so sánh liên vùng. Giá tăng thực chất phải được ghi nhận; hành vi nâng khống giá hoặc thông đồng phải bị xử lý nghiêm bằng kiểm toán dữ liệu.

Thứ tư, tách bạch rủi ro khách quan và lỗi chủ quan. Nhà nước không dùng ngân sách để bù đắp cho những nhà thầu cố tình bỏ thầu giá rẻ mạt để trúng thầu rồi thi công yếu kém. Nhưng với những biến động giá khách quan vượt khả năng dự báo khi dự án bị kéo dài do vướng mặt bằng, cơ chế điều chỉnh cần được kích hoạt sòng phẳng để bảo vệ dòng tiền của doanh nghiệp.

xanh-trang-do-hien-dai-bao-cao-tong-ket-kinh-doanh-cong-ty-bai-thuyet-trinh.png

Song song với câu chuyện hoàn thiện cơ chế giá, một lỗ hổng lớn của thị trường xây lắp nhiều năm qua là sự thao túng của các kênh tuyển dụng tự phát. Tình trạng "cò mồi" chèo kéo thợ, tranh giành lao động trước cổng công trình hay ứng trước lương để bốc trọn tổ đội sang dự án khác đã gây xáo trộn tổ chức thi công và đẩy rủi ro về cả phía nhà thầu lẫn người lao động.

Đứng trước thực trạng này, ông Vũ Quang Thành – Phó Giám đốc Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội (thuộc Sở Nội vụ Hà Nội) khẳng định giải pháp căn cơ là phải từng bước chính quy hóa nguồn cung lao động xây dựng thông qua các nền tảng kết nối số công khai, minh bạch. Khi các doanh nghiệp bắt buộc phải công khai thông tin tuyển dụng về vị trí việc làm, mức thu nhập, địa điểm, thời gian làm việc, điều kiện ăn ở và các chế độ bảo hiểm, sự mù mờ về thông tin sẽ bị triệt tiêu, chấm dứt đất sống của các đường dây môi giới ngầm.

anh-man-hinh-2026-10-19-luc-225509.png

Một mô hình đột phá đang được Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội nghiên cứu thúc đẩy là xây dựng “Ngân hàng lao động xây dựng” tích hợp trên Cổng thông tin việc làm Thành phố (congvieclam.hanoi.gov.vn). Đây sẽ là kho dữ liệu số hóa phân loại chi tiết hồ sơ người lao động theo từng nhóm nghề chuyên sâu (như thợ nề, thợ sắt, thợ cốp pha, thợ cơ giới), bậc thợ kỹ thuật, kinh nghiệm thực tế và các chứng chỉ an toàn lao động.

Nhà thầu khi có nhu cầu chỉ cần truy cập hệ thống để kết nối trực tiếp với các tổ đội đạt chuẩn, giảm thiểu tình trạng đứt gãy cam kết và tiết kiệm tối đa chi phí giao dịch trung gian. Đồng thời, các phiên giao dịch việc làm lưu động, chuyên đề tại các huyện ngoại thành sẽ được đẩy mạnh để đưa cơ hội việc làm chính thống về tận tay người lao động nông thôn.

xanh-trang-do-hien-dai-bao-cao-tong-ket-kinh-doanh-cong-ty-bai-thuyet-trinh-1.png

Thực tế lực lượng lao động ngành xây dựng lành nghề già hóa, trong khi lao động trẻ nông thôn và miền núi thiếu hụt kỹ năng đòi hỏi một cuộc cải cách thực chất trong công tác đào tạo nghề.

Ông Vũ Quang Thành chỉ rõ, giải pháp mang tính bền vững phải là mô hình liên kết ba bên: "Doanh nghiệp đặt hàng – Cơ sở giáo dục nghề nghiệp đào tạo – Trung tâm dịch vụ việc làm kết nối".

Các trường nghề không đào tạo dàn trải theo chỉ tiêu hành chính có sẵn, mà thiết kế các khóa đào tạo, bổ túc tay nghề ngắn hạn từ 1 đến 3 tháng bám sát đúng đơn đặt hàng thực tế của các nhà thầu: từ kỹ thuật buộc thép, ghép cốp pha hiện đại, vận hành máy xúc, máy ủi, cẩu tháp cho đến an toàn lao động. Người học được đào tạo đúng kỹ năng doanh nghiệp cần và có cơ hội được tuyển dụng ngay sau khi kết thúc khóa học.

anh-ghep-su-kien-nam-moi-mau-kem-xam-tro-phong-cach-so-luu-niem-tao-nha.png

Đồng quan điểm, GS.TS Mạc Quốc Anh cho rằng đào tạo nghề cần có sự hỗ trợ cụ thể về mặt tài chính: “Ngân sách nhà nước và doanh nghiệp có thể cùng phối hợp chi trả học phí cho các khóa đào tạo nghề ngắn hạn gắn với cam kết tuyển dụng. Đánh giá hiệu quả hỗ trợ đào tạo nghề không phải đo bằng số chứng chỉ cấp ra, mà phải đo bằng tỷ lệ duy trì việc làm ổn định, kỹ năng và năng suất lao động thực tế sau khi ra trường”.

Bên cạnh đào tạo, PGS.TS Ngô Trí Long lưu ý rằng tính đến giữa năm 2026, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ của cả nước mới đạt khoảng 29,7%. Trong bối cảnh lương tối thiểu vùng đã tăng lên (vùng I đạt 5,31 triệu đồng/tháng; vùng II đạt 4,73 triệu đồng/tháng), mức lương tối thiểu chỉ đóng vai trò là "sàn pháp lý". Ngành xây dựng phải xây dựng các cấp bậc nghề chuẩn mực để tiền công gắn chặt với trình độ và năng suất.

Quan trọng hơn, an sinh phải trở thành bộ phận cốt lõi trong chính sách giữ chân người thợ. Chỗ ở lán trại vệ sinh, nước uống sạch, đồ bảo hộ đạt chuẩn, bảo hiểm tai nạn và chế độ hỗ trợ khi di chuyển công trình phải được các nhà thầu hạch toán như một chi phí sản xuất chính thức, thay vì coi là khoản chi phí phụ phát sinh.

xanh-trang-do-hien-dai-bao-cao-tong-ket-kinh-doanh-cong-ty-bai-thuyet-trinh-2.png

Mọi sự trợ lực về cơ chế sẽ trở nên vô nghĩa nếu bản thân các nhà thầu không chủ động tự thay đổi mô hình tổ chức sản xuất. Thời kỳ dựa dẫm vào nguồn lao động thủ công giá rẻ, làm việc kéo dài thời gian đã chính thức khép lại.

GS.TS Mạc Quốc Anh đưa ra những khuyến nghị thực chiến dành cho các doanh nghiệp xây lắp nhỏ và vừa (SME): Thứ nhất, quản trị nhân lực từ tư duy "thuê theo đợt" sang xây dựng "đội ngũ nòng cốt". Doanh nghiệp cần xây dựng lộ trình thăng tiến rõ ràng cho thợ trẻ từ phụ việc lên thợ chính, thợ cả; phân quyền tương xứng cho kỹ sư hiện trường; tiền thưởng gắn chặt với các chỉ số năng suất, chất lượng và an toàn thi công chứ không chỉ chạy theo tốc độ.

xanh-trang-do-hien-dai-bao-cao-tong-ket-kinh-doanh-cong-ty-bai-thuyet-trinh-9.png

Thứ hai, cơ giới hóa từng phần và sử dụng dịch vụ dùng chung. Không nhất thiết doanh nghiệp nhỏ phải dồn vốn mua sắm máy móc tiền tỷ. Nhà thầu cần bắt đầu từ các công đoạn tiêu tốn nhiều nhân công nhất: ứng dụng máy uốn thép tự động, máy phun vữa, cẩu tự hành nhỏ, hoặc liên kết thuê tài chính, sử dụng chung thiết bị cơ giới từ các đơn vị chuyên nghiệp.

Thứ ba, quản trị công trường tinh gọn (Lean Construction). Lập kế hoạch chi tiết theo tuần, đảm bảo tuyệt đối điều kiện "đủ bản vẽ - đủ vật tư - đủ mặt bằng - sẵn thiết bị" trước khi điều phối thợ vào làm. Loại bỏ hoàn toàn thời gian thợ phải ngồi chờ việc hoặc làm sai phải đục phá làm lại – nguyên nhân gây lãng phí dòng tiền lớn nhất.

Về công cụ tài chính tiếp sức cho nhà thầu, các chuyên gia kinh tế nhấn mạnh việc tận dụng gói tín dụng ưu đãi dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa theo chủ trương của Chính phủ, với lãi suất thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức bình quân cho vay. Các tổ chức tín dụng cần linh hoạt thẩm định cho vay vốn lưu động dựa trên dòng tiền hợp đồng và khối lượng nghiệm thu thực tế, kết hợp hình thức thuê tài chính (leasing) để doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận công nghệ mới mà không bị gãy dòng tiền.

Ở tầm nhìn dài hạn, lời giải căn cơ nhất để hóa giải hoàn toàn tình trạng thiếu hụt nhân công chính là đẩy mạnh công nghiệp hóa và số hóa ngành xây dựng, từng bước đưa công trường trở thành những "nhà máy lắp ghép".

Theo Chiến lược phát triển ngành Xây dựng đến năm 2030, định hướng đến năm 2045 (được phê duyệt tại Quyết định 179/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ), ngành xây dựng đang bước vào giai đoạn chuyển đổi phương thức sản xuất từ thủ công sang tự động hóa và chế tạo sẵn.

PGS.TS Ngô Trí Long đúc kết 3 trụ cột dài hạn: Một là, công nghiệp hóa cấu kiện và tiền chế (Precast & Modular). Nhà nước cần sớm ban hành hệ thống tiêu chuẩn hóa thiết kế để thúc đẩy sản xuất hàng loạt các cấu kiện bê tông đúc sẵn, tấm tường lắp ghép. Chuyển phần lớn khối lượng thi công nặng nhọc từ công trường vào các nhà máy sản xuất tự động, tại công trường chỉ thực hiện khâu cẩu lắp, giúp cắt giảm 50 – 70% nhân công thủ công ngoài trời.

anh-ghep-su-kien-nam-moi-mau-kem-xam-tro-phong-cach-so-luu-niem-tao-nha-4.png

Hai là, bắt buộc số hóa qua Mô hình thông tin công trình (BIM). Thực hiện nghiêm lộ trình áp dụng BIM (đã bắt buộc với công trình cấp I, cấp đặc biệt và mở rộng sang công trình cấp II từ năm 2025). BIM giúp khớp nối thiết kế, phát hiện xung đột từ sớm, bóc tách khối lượng chính xác tuyệt đối, giảm thiểu lãng phí vật tư và nhân lực thi công sửa chữa.

Ba là, đổi mới tiêu chí đấu thầu công. Thay đổi căn bản phương thức chấm thầu từ việc chọn nhà thầu bỏ giá thấp nhất sang ưu tiên các nhà thầu có giải pháp công nghệ hiện đại, tiến độ nhanh, áp dụng BIM và cấu kiện tiền chế nhằm tối ưu hóa chi phí toàn bộ vòng đời công trình.

Cạnh tranh lao động giữa ngành xây dựng với các nhà máy công nghiệp và ngành dịch vụ sẽ ngày càng khốc liệt. Áp lực tăng giá nhân công hiện nay không đơn thuần là một cuộc khủng hoảng cục bộ, mà là hồi chuông cảnh báo rõ ràng nhất: kỷ nguyên của mô hình “nhiều lao động thủ công – chi phí rẻ – năng suất thấp” đã chấm dứt.

Chỉ khi toàn ngành dũng cảm bước qua sức ép này, biến áp lực chi phí thành động lực đổi mới công nghệ, hoàn thiện cơ chế quản lý chi phí sát thị trường và xây dựng một hệ sinh thái việc làm chuyên nghiệp, dòng vốn đầu tư công hơn 1 triệu tỷ đồng mới thực sự trở thành đòn bẩy vững chắc đưa hạ tầng quốc gia cất cánh bền vững.

xanh-trang-do-hien-dai-bao-cao-tong-ket-kinh-doanh-cong-ty-bai-thuyet-trinh-11.png

Xem thêm

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhận Huân chương cao quý của Vương quốc Đan Mạch

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhận Huân chương cao quý của Vương quốc Đan Mạch

Trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Vương quốc Đan Mạch, sáng 19/10 (giờ địa phương), Nhà vua Đan Mạch Frederik X đã trao tặng Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm Huân chương Voi - huân chương cao quý nhất của Đan Mạch được trao tặng các thành viên Hoàng gia và nguyên thủ quốc gia nước ngoài.

Khi đấu giá trực tuyến gặp sự cố: Không thể để người tham gia tự gánh thiệt hại

Khi đấu giá trực tuyến gặp sự cố: Không thể để người tham gia tự gánh thiệt hại

(CLO) Đang trả giá thì hệ thống nghẽn mạng, mất kết nối, khi truy cập trở lại phiên đấu giá đã kết thúc - quyền lợi của người tham gia được bảo vệ ra sao? Các đại biểu Quốc hội đề nghị quy định rõ nguyên tắc xử lý sự cố, trách nhiệm của đơn vị vận hành và cơ chế bảo đảm công bằng trong đấu giá trực tuyến.

Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh khẩn trương hoàn thiện tổ chức bộ máy

Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh khẩn trương hoàn thiện tổ chức bộ máy

(CLO) Khẳng định vai trò, vị thế quan trọng của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - trung tâm quốc gia về đào tạo cán bộ và nghiên cứu lý luận chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú yêu cầu Học viện khẩn trương rà soát kỹ lưỡng, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy, đáp ứng yêu cầu của Bộ Chính trị và sự chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước.

Phụ nữ Việt Nam phát huy bản lĩnh trong kỷ nguyên mới

Phụ nữ Việt Nam phát huy bản lĩnh trong kỷ nguyên mới

(CLO) Từ những nữ doanh nhân chèo lái tập đoàn nghìn tỷ trong nền kinh tế số, các nhà khoa học nữ sở hữu công trình tầm cỡ quốc tế, cho đến những nữ chiến sĩ mũ nồi xanh kiên cường tại các phái bộ Liên Hợp Quốc... phụ nữ Việt Nam hôm nay đang viết nên một định nghĩa mới về bản lĩnh. Không còn bị trói buộc bởi những định kiến cũ kỹ, họ chủ động làm chủ công nghệ, đón đầu xu thế và tỏa sáng rực rỡ trong kỷ nguyên mới, trở thành động lực thúc đẩy hành trình vươn mình mạnh mẽ của toàn dân tộc.

Cỡ chữ bài viết: