Nguyên nhân nào khiến Hà Nội dễ ngập?
Chỉ trong chưa đầy một tháng, ba cơn bão liên tiếp đổ bộ đã khiến nhiều tỉnh, thành phía Bắc, trong đó có Hà Nội hứng chịu lượng mưa lớn kỷ lục. Nhiều tuyến phố trung tâm Thủ đô ngập sâu tới nửa mét, xe cộ chết máy hàng loạt, giao thông tê liệt, sinh hoạt người dân bị đảo lộn. Hệ thống thoát nước đô thị vốn quá tải bộc lộ rõ hạn chế, khi nước mưa không kịp tiêu thoát, gây ngập ngay cả tại các khu vực mới quy hoạch.
Theo PGS.TS Vũ Hoài Đức - Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, nguyên nhân sâu xa của ngập lụt đô thị nằm ở việc quy hoạch thiếu tích hợp giữa cao độ nền, mạng lưới thoát nước và không gian trữ nước. Nhiều khu đô thị mới được nâng nền cao hơn khu cũ, dẫn đến tình trạng nước từ nơi cao đổ dồn về khu thấp, gây ngập cục bộ mà không có hướng thoát.
Đồng quan điểm, Kiến trúc sư Trần Tuấn Anh cho rằng, nếu cao độ đất không được kết nối đồng bộ với hệ thống thoát nước đô thị, ngập sẽ vẫn quay trở lại, cho dù có đầu tư bao nhiêu trạm bơm hay hồ điều tiết.
Ngoài ra, quá trình bê tông hóa nhanh trong nhiều năm qua cũng khiến những “kho thấm” tự nhiên như hồ, ao, kênh rạch bị thu hẹp đáng kể, làm giảm nghiêm trọng khả năng hấp thụ và điều tiết nước mưa.
Theo thống kê, tại Hà Nội, nhiều hồ điều hòa tự nhiên đã bị san lấp để lấy đất xây dựng. Trong hơn 10 năm qua, diện tích mặt nước tự nhiên giảm trên 15%, làm mất đi khả năng điều tiết quan trọng. Trong khi đó, hệ thống hạ tầng cũ kỹ, được xây dựng từ thời Pháp thuộc, chỉ đáp ứng mưa có cường độ 100 mm/2 giờ.
Mặt khác, hiện nay các trận mưa thường đạt 200 - 300 mm chỉ trong vài giờ, khiến hệ thống thoát nước quá tải. Cống nhỏ xuống cấp, rác thải bít miệng cống khiến nước thoát chậm, thậm chí “trào ngược”.
Khôi phục tự nhiên, ứng dụng vật liệu xanh và công nghệ mới
Theo TS. Kiến trúc sư Phan Đăng Sơn - Chủ tịch Hội Kiến trúc sư Việt Nam, để giải quyết bài toán ngập úng một cách bền vững, các đô thị cần khôi phục khả năng tự điều tiết của tự nhiên, đồng thời ứng dụng công nghệ và vật liệu xây dựng mới.
Chính phủ hiện đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích phát triển sản phẩm xanh, từ ưu đãi tín dụng đến hỗ trợ các công trình sử dụng năng lượng hiệu quả. Nhờ đó, tốc độ tăng trưởng của vật liệu xanh tại Việt Nam đang đạt khoảng 20 - 30% mỗi năm. Việc sử dụng vật liệu thân thiện môi trường không chỉ giúp tiết kiệm năng lượng mà còn góp phần thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng “0” (Net Zero) vào năm 2050.
Mặt khác, trong bối cảnh thời tiết Hà Nội và nhiều tỉnh miền Bắc thường xuyên ẩm ướt, nồm ướt, các loại vật liệu có khả năng chống thấm, chịu nhiệt và kích thước lớn như gạch, đá vừa đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, vừa thích ứng tốt hơn với điều kiện khí hậu đặc thù.
Còn theo ông Đào Ngọc Nghiêm - Nguyên Giám đốc Sở Quy hoạch và Kiến trúc Hà Nội cho rằng, muốn chống ngập hiệu quả, Hà Nội cần trả lại cho đô thị những hồ nước, ao đầm đã bị san lấp. Không gian mặt nước phải được xem như cấu phần không thể thiếu trong quy hoạch đô thị hiện đại.
Trên thế giới, nhiều quốc gia đã áp dụng mô hình “đô thị bọt biển” (sponge city), tức là giữ nước tại chỗ thông qua mặt thấm, hồ sinh thái, mái xanh và vật liệu thấm nước. Các chuyên gia cho rằng, những khu đô thị mới tại Việt Nam cần áp dụng mô hình này ngay từ giai đoạn quy hoạch, thay vì xây dựng xong mới tìm cách thoát nước.
Cùng quan điểm, PGS.TS Hồ Long Phi - Nguyên Viện trưởng Viện Nước và Biến đổi khí hậu (Đại học Quốc gia TP.HCM) nhấn mạnh hạ tầng chống ngập phải là mạng lưới đa tầng từ mặt đường có độ dốc, đến cống ngầm, hồ chứa. Tất cả phải hoạt động đồng bộ như một hệ sinh thái.
PGS.TS Hồ Long Phi đề xuất, tăng cường sử dụng vật liệu có khả năng thấm nước cao, như bê tông nhựa rỗng tại vỉa hè, bãi đỗ xe hoặc quảng trường, giúp nước mưa nhanh chóng thấm xuống đất thay vì chảy tràn.
Ngoài ra, mô hình bể chứa ngầm bằng nhựa đã được triển khai hiệu quả tại TP. Thủ Đức cũng có thể nhân rộng nhằm thu gom và tái sử dụng nước mưa, góp phần giảm đáng kể tình trạng ngập úng tại đô thị lớn như Hà Nội.