Thách thức tới tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô là rất lớn
Trình bày báo cáo đề dẫn tại Hội nghị về giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng và đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế vào chiều 12/9/2022, Bộ trưởng Bộ KH&ĐT Nguyễn Chí Dũng cho biết, từ hội nghị của Thủ tướng Chính phủ về ổn định kinh tế vĩ mô cuối tháng 7 đến nay, tình hình thế giới xuất hiện một số yếu tố mới.
Cụ thể là: (i) nguy cơ suy thoái tại một số nền kinh tế lớn trở nên rõ ràng hơn, tình trạng thất nghiệp tại Mỹ tăng so với đầu năm 2022; (ii) nguồn cung khí đốt trở thành thách thức chưa từng có tại EU; (iii) Mỹ và các nước G7 áp trần giá dầu xuất khẩu của Nga, áp lực tăng giá dầu tiếp tục có xu hướng yếu đi nhưng còn khó dự đoán; (iv) hạn hán kéo dài trên diện rộng tại Trung Quốc, EU; (v) chính sách của Mỹ về công nghiệp bán dẫn; (vi) căng thẳng địa chính trị gia tăng tại một số khu vực… Trung Quốc và một số nước gia tăng mức độ nới lỏng chính sách tài khóa, tiền tệ, trong khi Mỹ, EU, Anh và nhiều nước phát triển tiếp tục thu hẹp chính sách tiền tệ.
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Phó Thủ tướng Lê Minh Khái chủ trì Hội nghị về giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng và đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế.
Ở trong nước, tăng trưởng kinh tế trong Quý III năm 2022 mặc dù dự báo đạt cao, nhưng trên nền tăng trưởng Quý III năm 2021 rất thấp (-6,17% so với cùng kỳ). Áp lực và khó khăn, thách thức trong những tháng cuối năm 2022, năm 2023 ngày càng gia tăng.
Dự báo tình hình cuối năm 2022 và năm 2023, ông Nguyễn Chí Dũng cũng cho biết, xu hướng chung của nhiều tổ chức quốc tế là nâng dự báo tăng trưởng năm 2022, hạ dự báo tăng trưởng năm 2023 của Việt Nam. Hoạt động sản xuất, kinh doanh tiếp tục khởi sắc; nguồn vốn đầu tư công từ Chương trình phục hồi và phát triển KTXH, 3 Chương trình mục tiêu quốc gia được đẩy mạnh giải ngân.
Tuy nhiên, rủi ro, thách thức tới tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô là rất lớn. Khó khăn, thách thức ngày càng tăng, nhất là áp lực lạm phát, tăng chi phí sản xuất, rủi ro về chuỗi cung ứng; nhu cầu các thị trường xuất khẩu lớn, truyền thống suy yếu; khả năng cạnh tranh, bảo vệ và giữ ổn định thị trường trong nước; điều chỉnh chính sách của các nền kinh tế, đối tác thương mại, đầu tư chủ yếu của nước ta; diễn biến bất thường thiên tai, dịch bệnh, bão lũ, an ninh nguồn nước…
Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng nêu một số vấn đề gợi ý để các đại biểu thảo luận.
Cần chủ động, linh hoạt trong hành động
Thời gian tới, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng nêu rõ quan điểm điều hành là thực hiện nhanh, hiệu quả, thực chất, toàn diện các Nghị quyết số 01/NQ-CP và 02/NQ-CP, Chương trình phục hồi và phát triển KTXH, Chương trình phòng, chống dịch COVID-19 (2022-2023)...
Đặc biệt, trước diễn biến nhanh, khó lường của tình hình kinh tế đòi hỏi phản ứng chính sách phải nhanh, có trọng tâm, hiệu quả, kịp thời. Đòi hỏi các bộ, cơ quan quản lý ngành cần chủ động, linh hoạt trong hành động không chờ chỉ đạo từ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ hoặc đề xuất từ các cơ quan khác.
Bộ trưởng Bộ KH&ĐT cũng nêu rõ mục tiêu phấn đấu: Hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu trong Nghị quyết số 32/2021/QH15 của Quốc hội với mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2022 vượt 7,5%; giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát năm 2022 tăng dưới 4%, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng để phấn đấu thực hiện mục tiêu tăng trưởng 5 năm (6,5-7%/năm), không làm suy yếu các động lực tăng trưởng, tìm kiếm các động lực tăng trưởng mới như kinh tế số, kinh tế xanh, chuyển đổi số…; phát triển xuất nhập khẩu, hướng đến cán cân thương mại hài hòa, bền vững.
Cùng với đó, giải ngân vốn đầu tư ngân sách nhà nước hằng năm đạt 95%-100% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, trong đó vốn ngân sách địa phương đạt 100%; đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án cơ sở hạ tầng quan trọng quốc gia, trọng điểm, cụ thể hóa đột phá chiến lược về cơ sở hạ tầng.
Tại hội nghị, ông Nguyễn Chí Dũng nêu một số vấn đề gợi ý để các đại biểu thảo luận là: Phân tích, đánh giá tình hình thế giới, tình hình và giải pháp ứng phó của các nền kinh tế lớn như Mỹ, EU, Trung Quốc, Nhật Bản…; những khó khăn, thách thức, rủi ro tiềm ẩn tới kinh tế Việt Nam, nhất là về tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, lạm phát, các cân đối lớn của nền kinh tế.
Đánh giá cụ thể về quan điểm, mục tiêu, định hướng chỉ đạo, điều hành và giải pháp trong thời gian tới. Tập trung làm rõ thêm về nhận định tình hình và bối cảnh trong thời gian qua, đánh giá hiệu quả của các chính sách đã triển khai, trong đó cần nêu bật được khó khăn, vướng mắc, hạn chế của chính sách, nguyên nhân khách quan và chủ quan của khó khăn, hạn chế và rút ra bài học kinh nghiệm.
Đề xuất các nhiệm vụ, giải pháp cần thực hiện trong thời gian tới, bao gồm cả các giải pháp cần triển khai ngay trong ngắn hạn và các giải pháp mang tính lâu dài, căn cơ trong trung và dài hạn cần chuẩn bị thực hiện ngay nhằm nâng cao năng lực và tính tự chủ của nền kinh tế, đạt được các mục tiêu đặt ra, phù hợp với tình hình và điều kiện thực tế của nền kinh tế.