Trình bày Báo cáo thẩm tra về Quy hoạch tổng thể quốc gia (QHTTQG) thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 trước Quốc hội sáng (5/1), Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Vũ Hồng Thanh cho biết, Uỷ ban Kinh tế (UBKT) nhận thấy Hồ sơ QHTTQG kèm theo Tờ trình số 506 đã cơ bản đáp ứng yêu cầu về danh mục tài liệu theo quy định của Luật Quy hoạch.
QHTTQG được xây dựng phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, cơ bản bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất trong hệ thống quy hoạch, tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên.
Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế của Quốc hội Vũ Hồng Thanh trình bày Báo cáo thẩm tra về Quy hoạch tổng thể quốc gia (QHTTQG) thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 trước Quốc hội.
Cần cân nhắc nghiên cứu, bổ sung “kịch bản trung bình”
Đối với mục tiêu phát triển đến năm 2030, ông Vũ Hồng Thanh cho biết, Báo cáo quy hoạch đã có sự phân loại một số mục tiêu cụ thể, trong đó nội dung mục tiêu về phát triển kết cấu hạ tầng ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện mục tiêu tổng quát cũng như các mục tiêu về kinh tế và xã hội.
Tuy nhiên, mục tiêu cho việc phát triển kết cấu hạ tầng mới tập trung chủ yếu cho hạ tầng giao thông, trong khi một số ngành khác có vai trò quan trọng nhưng còn chung chung như: hạ tầng công nghệ thông tin, hạ tầng năng lượng, hạ tầng thủy lợi… "Do đó, đề nghị bổ sung, làm rõ", ông Thanh nhấn mạnh.
Về tầm nhìn đến năm 2050, UBKT đề nghị bổ sung mục tiêu về giáo dục, đào tạo, phát triển con người toàn diện, mang đầy đủ đặc trưng của con người xã hội chủ nghĩa; có chỉ số phát triển con người ở mức rất cao (chỉ số HDI từ 0,8 trở lên), đời sống của người dân hạnh phúc...
Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Vũ Hồng Thanh.
Đáng chú ý, về các kịch bản phát triển, Chủ nhiệm UBKT cho biết, Báo cáo quy hoạch đề xuất 2 kịch bản phát triển, bao gồm: 1. Kịch bản thấp với dự báo tốc độ tăng trưởng GDP đạt bình quân 6,26%/năm giai đoạn 2021-2025, 6,34%/năm giai đoạn 2026-2030, 6,3%/năm cho cả giai đoạn 2021-2030, 6,49%/năm giai đoạn 2031-2050;
2. Kịch bản phấn đấu với dự kiến tốc độ tăng trưởng GDP đạt bình quân 6,63%/năm giai đoạn 2021-2025, 7,48%/năm giai đoạn 2026-2030, 7,05%/năm cho cả giai đoạn 2021-2030, tốc độ tăng trưởng có khả năng đạt 7,16%/năm trong giai đoạn 2031-2050.
"Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng, để bảo đảm tính khả thi của quy hoạch tránh việc xây dựng kịch bản tốc độ tăng trưởng cao vượt quá khả năng đáp ứng nguồn lực đầu tư, cần cân nhắc nghiên cứu, bổ sung “kịch bản trung bình” tối ưu nhất giữa hai kịch bản", ông Vũ Hồng Thanh nêu.
Đại biểu tham dự phiên họp.
Làm rõ việc phát triển các khu đô thị ven biển, đô thị đảo, kinh tế đảo phải gắn với an ninh, quốc phòng
Đối với các vùng động lực quốc gia và hành lang kinh tế, Chủ nhiệm UBKT của Quốc hội Vũ Hồng Thanh cho biết, báo cáo quy hoạch đã đề xuất các định hướng phân vùng trọng điểm đầu tư, vùng khuyến khích phát triển và vùng hạn chế phát triển; các khu vực lãnh thổ cần bảo tồn, cấm khai thác, sử dụng.
Tuy nhiên, trừ định hướng phân vùng hạn chế phát triển; các khu vực lãnh thổ cần bảo tồn, cấm khai thác, sử dụng thì các vùng còn lại đều chưa làm rõ được tiêu chí phân vùng cũng như mục tiêu phân vùng và mối quan hệ giữa các vùng.
Cũng theo ông Vũ Hồng Thanh, kết cấu hiện tại chưa làm rõ được sự gắn kết giữa các vùng động lực quốc gia với nhau, với các hành lang kinh tế và với định hướng phát triển và phân bố không gian các ngành quan trọng.
Về định hướng phát triển không gian biển, Chủ nhiệm UBKT cho biết, định hướng phát triển không gian biển của Quy hoạch tổng thể quốc gia cần bám sát các quan điểm, mục tiêu, tầm nhìn, chủ trương lớn, khâu đột phá và các nhóm giải pháp đề ra trong Nghị quyết số 36-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII để làm căn cứ lập Quy hoạch không gian biển quốc gia.
Trong đó, cần lưu ý: (i) Làm rõ phạm vi không gian biển, nhất là vùng đất liền ven biển và vùng ven biển; (ii) Định hướng cụ thể hơn việc sử dụng không gian biển cho một số lĩnh vực dựa trên tiềm năng tài nguyên thiên nhiên và điều kiện tự nhiên của từng vùng biển; (iii) Việc phát triển các khu đô thị ven biển, đô thị đảo, kinh tế đảo phải gắn với an ninh, quốc phòng; (iv) Làm rõ vai trò của các cảng nước sâu, các khu kinh tế biển và sự liên kết giữa các ngành sử dụng không gian biển; (v) Làm rõ hơn định hướng các khu vực cần bảo vệ, khu vực quốc phòng, an ninh các vùng thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam.
Về định hướng sử dụng đất quốc gia, UBKT đề nghị hoàn thiện nguyên tắc định hướng sử dụng đất như sau: “Việc xác định chỉ tiêu sử dụng đất phải phù hợp với nhu cầu sử dụng đất, tránh lãng phí trong phân bổ, quản lý và sử dụng đất” theo yêu cầu tại Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.
Gia Phát