Luật Biển Việt Nam – Vũ khí mềm và hành lang pháp lý chiến lược (kỳ 1)

Một trong những dấu ấn của Quốc hội khóa XIII là đã có những đóng góp vô cùng quan trọng đối với việc bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Đây là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên nhưng cũng vô vàn khó khăn, thách thức. Và Quốc hội, với tư cách là cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của toàn dân, những năm gần đây đã “hòa nhịp đập cùng trái tim đồng bào, chiến sĩ cả nước” để hoạch định, triển khai những kế sách quốc gia giữ gìn chủ quyền biển bảo thiêng liêng ấy.

(CLO) Một trong những dấu ấn của Quốc hội khóa XIII là đã có những đóng góp vô cùng quan trọng đối với việc bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Đây là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên nhưng cũng vô vàn khó khăn, thách thức. Và Quốc hội, với tư cách là cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của toàn dân, những năm gần đây đã “hòa nhịp đập cùng trái tim đồng bào, chiến sĩ cả nước” để hoạch định, triển khai những kế sách quốc gia giữ gìn chủ quyền biển bảo thiêng liêng ấy.

Cột mốc quan trọng

Theo một báo cáo của Bộ Tư pháp, tính đến năm 2012, nước ta có hơn 500 văn bản pháp qui ở Trung ương và địa phương liên quan đến quản lý Nhà nước về biển đảo nhưng ngày 21/6/2012 đã đi vào lịch sử hoàn thiện hệ thống pháp luật quản lý biển đảo khi tại Kỳ họp thứ 3, Quốc hội Khóa XIII đã chính thức thông qua Luật Biển Việt Nam với số phiếu tán thành rất cao 99,8% (495/496 đại biểu).

Phát biểu với báo giới ngay sau khi Luật Biển Việt Nam được thông qua, đại biểu Quốc hội, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh (nay là Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao) khẳng định: “Việc Quốc hội thông qua Luật Biển Việt Nam là một hoạt động lập pháp quan trọng nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý của nước ta, phục vụ cho việc sử dụng, quản lý, bảo vệ các vùng biển, đảo và phát triển kinh tế biển của Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập quốc tế và tăng cường hợp tác với các nước, vì hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới. Lần đầu tiên nước ta có một văn bản luật quy định đầy đủ chế độ pháp lý của các vùng biển, đảo thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam theo đúng Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để quản lý, bảo vệ và phát triển kinh tế biển, đảo của nước ta…”.

- Đại biểu Quốc hội Phạm Thị Hải (Đồng Nai – ngoài cùng bên trái) thăm và tặng quà bộ đội đảo Sơn Ca (tháng 5-2014)
Đại biểu Quốc hội Phạm Thị Hải (Đồng Nai – ngoài cùng bên trái) thăm và tặng quà bộ đội đảo Sơn Ca (tháng 5-2014)

Nhưng để có được đạo luật quan trọng này, là cả một lộ trình nhận thức, phát triển trong tư duy, quan điểm và hành động thực tiễn của Đảng, Nhà nước ta.

Nói về vấn đề này, PGS, TS Nguyễn Hồng Thao, chuyên gia luật quốc tế, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Biên giới của Chính phủ, nay là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Malaysia cho biết: Việt Nam là quốc gia đầu tiên trong khu vực đưa ra Tuyên bố Chính phủ (12/5/1977) về các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam phù hợp với nội dung thảo luận của hội nghị lần thứ ba của LHQ về Luật biển (1973-1982). Song con đường pháp điển hóa luật Biển của đất nước và thông qua một chiến lược biển hiệu quả vẫn còn lắm thác ghềnh. 30 năm sau, ngày 9/2/2007, hội nghị lần thứ tư BCH TƯ Đảng khoá X mới ban hành nghị quyết số 09-NQ/TW về Chiến lược biển VN đến năm 2020. Chiến lược biển của VN phù hợp với xu thế "tiến ra biển" của thế giới mà Công ước LHQ về Luật biển năm 1982 đã đặt nền móng. Luật Biển Việt Nam 2012 đã cụ thể hóa những mục tiêu của chiến lược biển Việt Nam.

Bộ đội đảo Trường Sa Lớn luôn vững tay súng bảo vệ vững chắc biển đảo.
Bộ đội đảo Trường Sa Lớn luôn vững tay súng bảo vệ vững chắc biển đảo.

Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội Phan Trung Lý cho biết:  Là quốc gia ven biển, Việt Nam đã tham gia Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 từ năm 1994. Tuy nhiên, cho đến trước năm 2012, Việt Nam chưa có một văn bản luật về biển mà chỉ mới có các quy định trong một số văn bản pháp quy liên quan. Quá trình xây dựng Luật Biển Việt Nam được bắt đầu từ năm 1998 và đã trải qua 3 nhiệm kỳ Quốc hội các khóa X, XI, XII. Luật Biển Việt Nam là một luật có nội dung rất lớn, liên quan đến nhiều lĩnh vực, đòi hỏi phải có sự chuẩn bị công phu, kỹ lưỡng.

Luật được xây dựng trên cơ sở Hiến pháp, Nghị quyết của Quốc hội về phê chuẩn Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982, các Tuyên bố của Chính phủ năm 1977 và 1982, tổng kết thực tiễn quản lý biển của nước ta, trên cơ sở Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 và các Hiệp định về biển đã ký. Trong quá trình xây dựng Luật Biển Việt Nam, ta cũng đã tham khảo thực tiễn của các nước và cũng cân nhắc lợi ích của ta, lợi ích của các bên liên quan ở Biển Đông và lợi ích chung của khu vực.

Trước đây, chúng ta đã có một số văn bản pháp luật quy định về một số khía cạnh liên quan đến biển như: Tuyên bố ngày 12/5/1977 của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam; Tuyên bố ngày 12/11/1982 của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam; Nghị định 30/CP ngày 29/1/1980 về quy chế cho tàu thuyền nước ngoài hoạt động trên các vùng biển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Nghị định 55/CP ngày 1/10/1996 về hoạt động của tàu quân sự nước ngoài vào thăm nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Nghị định số 161/2003/NĐ-CP ngày 18/12/2003 của Chính phủ về Quy chế khu vực biên giới biển; Thông tư số 60/TTg ngày 19/2/1980 của Thủ tướng Chính phủ hướng dẫn việc thực hiện Nghị định ban hành quy chế cho tàu thuyền nước ngoài hoạt động trên các vùng biển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Luật biên giới quốc gia năm 2003; Luật thủy sản năm 2003; Bộ luật Hàng hải năm 2005... Tuy nhiên, so với các văn bản pháp luật có nội dung liên quan đến biển nêu trên, Luật Biển Việt Nam có một số điểm mới quan trọng.

Tâm huyết, trách nhiệm nhưng thận trọng, phù hợp luật pháp quốc tế

Nói về quá trình chuẩn bị, thảo luận dự án Luật Biển Việt Nam, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội Phan Trung Lý cho biết thêm, đây là một trong những dự thảo luật nhận được sự quan tâm của toàn xã hội và sự thảo luận sôi nổi, đầy tâm huyết của các vị đại biểu Quốc hội. Có những vấn đề cụ thể như đại biểu đề nghị bổ sung cụm từ "toàn vẹn và đầy đủ" khi quy định về chủ quyền của Việt Nam đối với lãnh hải, vùng trời, vùng nước và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển (khoản 1 điều 12) sau đã được tiếp thu vào dự thảo Luật. Nhiều đại biểu còn đề nghị quy định rõ về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ngay tại điều 1 của dự thảo luật.

Nhớ lại những ngày thảo luận dự án Luật, Đại biểu Quốc hội Đỗ Văn Vẻ (Thái Bình) kể: “Tôi nhận thấy tinh thần làm việc của Quốc hội là nghiêm túc, đầy trách nhiệm trước chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc. Có những vấn đề nhạy cảm cũng được tiếp thu nhanh chóng như việc nhiều đại biểu đề nghị sử dụng thuật ngữ "tranh chấp" thay cho "bất đồng" trong điều 4 về nguyên tắc quản lý và bảo vệ biển. Việc này đã được tiếp thu và thay cụm từ "giải quyết các bất đồng" bằng "giải quyết các tranh chấp" tại khoản 3 điều 4”.

Đại biểu Quốc hội, nhà sử học Dương Trung Quốc cho biết: Luật Biển Việt Nam được chuẩn bị từ rất lâu rồi, Việt Nam là quốc gia có 3.200 cây số bờ biển, rất nhiều đảo và hải đảo, và quần đảo nên rất cần có đạo luật riêng về biển đảo. Việc xây dựng Luật Biển Việt Nam càng sớm càng tốt và cũng là mong ước của người dân cũng như mong muốn của Quốc hội. Nó không chỉ đáp ứng yêu cầu về vấn đề bảo vệ chủ quyền mà ngay cả vấn đề muốn phát triển kinh tế biển thì cũng phải có hành lang pháp lý.

Trên cơ sở khẳng định chủ quyền của mình trong Luật Biển Việt Nam có nói nếu nơi nào có tranh chấp thì Việt Nam cũng sẽ sẵn sàng với tinh thần thực hiện những cam kết quốc tế, nhất là Công Ước về Luật Biển của LHQ (UNCLOS), và trên một tinh thần là vẫn thương thảo một cách hòa bình. Trong khi thảo luận tại Quốc hội, tôi cũng thấy thái độ của Việt Nam rất thiện chí, trên tinh thần nếu có tranh chấp thì phải thương lượng một cách hòa bình. Đương nhiên là mỗi quốc gia đều có quyền bảo vệ lãnh thổ của mình. Hai nữa Việt Nam luôn luôn quan tâm đến những cam kết quốc tế. Tôi lấy thí dụ khi thảo luận về khoản đối với tàu quân sự các nước đi ngang qua lãnh hải của mình nếu không gây tác hại gì cả thì ta yêu cầu họ phải xin phép hay chỉ cần thông báo thôi? Cuối cũng tất cả đại biểu Quốc hội đều nhất trí là chỉ cần thông báo. Điều này đã thể hiện Việt Nam hoàn toàn muốn tạo những điều kiện thuận lợi và góp phần vào việc sử dụng giao thương trên biển được thuận lợi.Như thế có nghĩa là thái độ của Việt Nam hết sức mong sự hòa hiếu, mong tất cả các quốc gia đều phải có những cam kết chung bên cạnh việc bảo vệ chủ quyền của mình”.

Vũ khí “mềm”, hành lang phát triển kinh tế

Là một chuyên gia về pháp luật liên quan tới biên giới, TS Trần Công Trục, Nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ cho biết, Luật Biển Việt Nam đã xác lập hành lang pháp lý rất quan trọng, giải quyết được nhiều vấn đề thực tiễn.  Luật quy định một cách đầy đủ hơn về phạm vi, chế độ pháp lý của các vùng biển, thềm lục địa Việt Nam, phù hợp với quy định tương ứng trong Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Việc Việt Nam gia nhập UNCLOS 1982 và tham gia ký kết DOC 2002 đã thể hiện được vai trò, tiếng nói của Việt Nam trong đời sống chính trị - pháp lý quốc tế. Việc Quốc hội thông qua Luật Biển phù hợp với các quy định của UNCLOS 1982 và DOC 2002, một lần nữa đã khẳng định Việt Nam là một trong những thành viên tích cực của UNCLOS 1982 và DOC 2002. Điều này sẽ giúp cho Việt Nam nhận được sự ủng hộ của bạn bè quốc tế khi giải quyết các tranh chấp liên quan đến biển. Sức mạnh của dư luận quốc tế được coi là “vũ khí mềm” vô cùng quan trọng.

Còn theo Th.S Vũ Thị Như Quỳnh (Bộ Tư pháp), Luật Biển Việt Nam đã tiếp nối những tư tưởng, quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước trong hoạt động quản lý, bảo vệ các vùng biển, đảo của Tổ quốc, là cơ sở pháp lý để Việt Nam đấu tranh bảo về chủ quyền, quyền chủ quyền đối với biển, đảo Tổ quốc, đồng thời nó củng cố thêm chứng cứ pháp lý cho Việt Nam khi xây dựng một bộ hồ sơ pháp lý đấu tranh bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa.Nó còn là cơ sở pháp lý để xác định các vùng biển của Việt Nam, nhất là một số vùng biển Việt Nam chưa được xác định rõ, các vùng chồng lấn với một số nước trong khu vực. Luật Biển Việt Nam còn tạo ra bước ngoặt cho nền kinh tế biển Việt Nam khi đề ra các nguyên tắc phát triển kinh tế biển; định hướng các ngành kinh tế biển được Nhà nước ưu tiên; nguyên tắc xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế biển; khuyến khích, ưu đãi đầu tư phát triển kinh tế trên các đảo và hoạt động trên biển. Luật còn  góp phần nâng cao hiệu quả quản lý biển, đảm bảo an toàn, an ninh trên biển với một chương riêng quy định về tuần tra, kiểm soát trên biển…

Việc ra đời Luật Biển Việt Nam là một sự kiện chính trị quan trọng nhưng vẫn còn rất nhiều việc phải làm để Luật ngày càng nhanh đi vào cuộc sống. Ths Vũ Thị Vân Dung (Trung tâm nghiên cứu Biển Đông) khuyến nghị:  Cần sớm  rà soát, hệ thống hóa hệ thống văn bản pháp luật về biển, đảo trên phạm vi cả nước; sửa đổi, bổ sung các quy định không còn phù hợp, thực hiện có hiệu quả Luật Biển Việt Nam. Trước mắt, cần ban hành những văn bản hướng dẫn thi hành Luật Biển năm 2012 để đảm bảo cho việc triển khai thực hiện các nội dung đã được quy định trong Luật, như: Văn bản hướng dẫn làm rõ định nghĩa đảo, quần đảo, xác định nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của đảo, quần đảo cũng như xác định chế độ pháp lý của đảo, quần đảo; ban hành văn bản quy định cụ thể về vùng cấm và khu vực hạn chế hoạt động trong lãnh hải của Việt Nam nhằm tạo cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệ lãnh hải, chống lại các hành vi xâm phạm chủ quyền quốc gia của nước khác… Mặt khác, cần kiện toàn về tổ chức cũng như hoạt động của hệ thống cơ quan quản lý biển; tăng cường sức mạnh cho lực lượng chấp pháp trên biển, đầu tư về trang thiết bị, phương tiện hiện đại… phục vụ cho công tác giám sát, bảo đảm an toàn, giữ gìn an ninh và chủ quyền quốc gia.

Bảo Minh – Bình Nguyên

[su_note note_color="#b5fae2"]PGS. TS Nguyễn Hồng Thao: Trong 30 năm qua, Quốc hội đã thông qua, sửa đổi hơn 60 văn bản luật và pháp lệnh, Chính phủ đã ban hành hàng trăm nghị định, văn bản dưới luật triển khai các chính sách của Đảng và Chính phủ về biển. Đỉnh cao của nỗ lực này là việc thông qua Luật Biển Việt Nam ngày 21/6/2012.

Việt Nam cũng sớm định ra những luật và quy định liên quan đến việc qua lại không gây hại của tàu thuyền nước ngoài, các vấn đề an toàn hàng hải và điều phối giao thông biển; bảo vệ các thiết bị và các hệ thống bảo đảm hàng hải và các thiết bị công trình khác; giữ gìn môi trường biển; nghiên cứu khoa học biển; ngăn ngừa các vi phạm quy định về hải quan, thuế khoá, y tế hay nhập cư, phù hợp với tinh thần và quy định của Công ước...

Đã có những quyết định sáng suốt để Việt Nam có được lực lượng Cảnh sát biển đầy non trẻ ngay từ năm 1998 trước cả Trung Quốc và các nước trong khu vực chỉ sau 4 năm thực thi Công ước. Đây là lực lượng có tư cách pháp nhân phù hợp luật pháp và thông lệ quốc tế. Tình hình Biển Đông nóng lên cho thấy Việt Nam sẽ vất vả như thế nào trong đấu tranh với các tàu thuyền, giàn khoan nước ngoài vi phạm vùng biển nếu không có Cảnh sát biển và lực lượng Kiểm ngư.[/su_note]

Xem thêm

Cỡ chữ bài viết: