Nghị định quy định chi tiết khoản 1, 2 và 3 Điều 45a; các Điều 45b, 45c; khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 45d của Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp, làm rõ mô hình tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia, thành phần tham gia cũng như cơ chế tổ chức, vận hành.
Theo Nghị định, đối tượng áp dụng gồm tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia, các thành phần của tổ hợp; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động của tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia.
Về chức năng, nhiệm vụ, tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia thực hiện nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ; thiết kế, chế tạo, thử nghiệm, sản xuất, cung ứng, sửa chữa, cải hoán, cải tiến, hiện đại hóa các sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an ninh theo quy định của pháp luật. Trên cơ sở yêu cầu thực tiễn phát triển công nghiệp an ninh và bảo đảm an ninh, trật tự, Bộ trưởng Bộ Công an quyết định danh mục sản phẩm, dịch vụ cụ thể và định kỳ hoặc đột xuất xem xét điều chỉnh, bổ sung.
Nghị định cũng xác định nhiệm vụ nghiên cứu, làm chủ công nghệ chiến lược, công nghệ nền, công nghệ lõi, công nghệ lưỡng dụng; tiếp nhận, chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an ninh. Đồng thời, tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia có trách nhiệm huy động tối đa các nguồn lực hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân để phát triển công nghiệp an ninh, trong đó chú trọng cơ chế ưu đãi thu hút nhân lực chất lượng cao, sử dụng hiệu quả ngân sách nhà nước, Quỹ đầu tư phát triển công nghiệp an ninh và các nguồn vốn hợp pháp khác; xây dựng, khai thác các khu công nghiệp an ninh, khu công nghiệp an ninh lưỡng dụng và hệ thống hạ tầng nghiên cứu, sản xuất.
Bên cạnh việc đáp ứng nhu cầu của lực lượng Công an nhân dân, tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia còn tham gia sản xuất, cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân; chuyển giao công nghệ lưỡng dụng phù hợp, góp phần phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Nghị định nhấn mạnh yêu cầu đổi mới công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, đẩy mạnh chuyển đổi số, nâng cao năng lực quản trị, tăng cường hợp tác quốc tế và tham gia chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu.
Về cơ cấu, tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia gồm hạt nhân là cơ sở công nghiệp an ninh nòng cốt và các thành viên tham gia. Thành viên có thể là tổ chức, doanh nghiệp trong hoặc ngoài lực lượng Công an nhân dân. Các thành phần này hợp tác thông qua liên doanh, liên kết hoặc ký kết hợp đồng để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an ninh.
Hoạt động của các thành phần trong tổ hợp được điều phối thống nhất bởi Hội đồng quản lý phát triển công nghiệp an ninh thông qua các cơ chế, chính sách, giao nhiệm vụ, đặt hàng, lựa chọn nhà thầu và hỗ trợ nguồn lực. Bộ trưởng Bộ Công an quyết định cơ quan kiêm nhiệm thực hiện nhiệm vụ thường trực của Hội đồng.
Nghị định quy định rõ điều kiện để một cơ sở công nghiệp an ninh nòng cốt được công nhận là hạt nhân của tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia, trong đó yêu cầu phải chủ trì nghiên cứu, sản xuất thành công ít nhất một sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an ninh có công nghệ hiện đại, được sử dụng rộng rãi; có năng lực làm chủ hoặc phát triển công nghệ chiến lược, công nghệ lõi; có đơn vị nghiên cứu, phát triển; bảo đảm cơ sở vật chất, trang thiết bị và nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
Về thủ tục công nhận, cơ sở công nghiệp an ninh nòng cốt nộp hồ sơ trực tiếp, qua bưu chính hoặc môi trường điện tử đến Hội đồng quản lý phát triển công nghiệp an ninh. Trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Hội đồng tiến hành kiểm tra, đánh giá, báo cáo Bộ trưởng Bộ Công an để trình Thủ tướng Chính phủ Việt Nam quyết định công nhận. Trường hợp không đủ điều kiện, cơ quan có thẩm quyền phải thông báo rõ lý do bằng văn bản.