Tham dự Hội nghị có đại diện lãnh đạo các bộ, ban, ngành Trung ương, UBND các tỉnh, thành phố, sở, ngành liên quan của 13 tỉnh, thành phố khu vực Nam Bộ có đông đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Hội nghị là dịp để rà soát, đánh giá kịp thời tiến độ, kết quả thực hiện dự án, tiểu dự án của Chương trình mục tiêu quốc gia tại các địa phương; chia sẻ, đề ra giải pháp cụ thể nhằm nâng cao năng lực công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành, tổ chức, thực hiện; đẩy nhanh tiến độ, đảm bảo hoàn thành mục tiêu, chỉ tiêu của Chương trình cho giai đoạn 2021-2025, làm cơ sở trong việc tham mưu, điều chỉnh nội dung, nguồn lực, địa bàn và xác định giải pháp đẩy nhanh tiến độ, đảm bảo hoàn thành 100% mục tiêu, chỉ tiêu của Chương trình đã được phê duyệt.
Hội nghị cũng là diễn đàn để các bộ, ngành, cơ quan Trung ương lắng nghe ý kiến trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm của các cấp chính quyền địa phương, ý kiến từ cộng đồng trong công tác tổ chức chỉ đạo, điều hành và thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu của Chương trình.
Ông Hầu A Lềnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc phát biểu khai mạc hội nghị.
Ông Hầu A Lềnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc, Phó Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021-2025 cho biết, việc triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tại các địa phương mới chỉ thực hiện được hơn một năm, thời gian còn lại khoảng 2,5 năm nhưng khối lượng công việc còn lại rất lớn. Các dự án cần được triển khai đồng bộ đến tận thôn, bản, người dân, đòi hỏi có giải pháp quyết liệt, quyết tâm, công tác phối hợp phải rất chặt chẽ. Trong đó, Trung ương tập trung vào việc thể chế hóa, ban hành văn bản hướng dẫn, tăng cường kiểm tra, tháo gỡ khó khăn cho địa phương, thậm chí có cơ chế đặc thù đẩy nhanh tiến độ giải ngân.
Các địa phương thực hiện quyết liệt kết quả giải ngân mới đạt được như mong muốn. Tuy tổng số đối tượng, nguồn vốn dành cho Chương trình này ở khu vực phía Nam chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với khu vực khác trong cả nước nhưng theo báo cáo, tỷ lệ giải ngân lại không cao, thậm chí có địa phương còn chưa giải ngân. Để Chương trình đạt được mục tiêu đề ra, Quốc hội cho phép Chính phủ rà soát điều chỉnh; đồng thời xác định những điểm yếu và đòi hỏi thực tế, thiết kế một Chương trình phù hợp hơn cho giai đoạn 2026-2030, để đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi dù ở đâu cũng được thụ hưởng chính sách phù hợp…
Theo báo cáo của Ủy ban Dân tộc, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi khu vực phía Nam có 308 xã, chiếm 8,97% xã được phân định của cả nước tại 13 tỉnh, thành phố, gồm 246 xã khu vực I, 7 xã khu vực II, 55 xã khu vực III; 356 thôn đặc biệt khó khăn, chiếm 2,69% thôn đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi của cả nước.
Mặc dù Chương trình mới đưa vào tổ chức tại địa phương chỉ khoảng 1 năm nhưng một số chỉ tiêu ước đến ngày 31/12/2023 hoàn thành, vượt kế hoạch được giao như: Tỷ lệ xã, thôn có đường ô tô đến trung tâm xã được trải nhựa hoặc bê tông, cứng hóa; tỷ lệ hộ dân được sử dụng điện lưới, nguồn điện khác phù hợp và sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh.
Một số chỉ tiêu về con người ở khu vực phía Nam đã đạt và vượt so với khu vực khác như: Tỷ lệ lao động trong độ tuổi được đào tạo nghề, tỷ lệ học sinh mẫu giáo 5 tuổi, tỷ lệ người từ 15 tuổi trở lên đọc thông, viết thạo tiếng phổ thông, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng thể nhẹ cân, thấp còi…
Tuy nhiên, tỷ lệ giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số của khu vực phía Nam lại thấp hơn các khu vực khác, chỉ đạt bình quân 1,89%. Một số địa phương đạt và vượt mục tiêu, kế hoạch được giao là Bình Phước, Tây Ninh, Vĩnh Long, Hậu Giang, Cà Mau; các địa phương chưa đạt gồm Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Trà Vinh, An Giang, Kiên Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng.
Thực trạng này xuất phát từ nguyên nhân như: Đối tượng người dân tộc thiểu số nghèo ở khu vực phía Nam (đặc biệt là Tây Nam bộ) phần lớn thuộc diện nghèo “bền vững”. Các hộ di dân ngoài kế hoạch, hộ người dân tộc thiểu số nghèo sinh sống ở xã, thôn đặc biệt khó khăn còn thiếu đất ở, đất sản xuất, phương tiện sản xuất, nước sinh hoạt. Dù các chính sách hỗ trợ giải quyết vấn đề này đã được đưa vào Dự án 1, Dự án 2 của Chương trình, nhưng còn vướng mắc về quy định, cơ chế, nên địa phương gặp khó trong tổ chức triển khai, chính sách chưa được giải quyết trong khi người dân tộc thiểu số nghèo ở địa bàn này chịu tác động gia tăng của hiện tượng biến đổi khí hậu tiêu cực như hạn hán, xâm nhập mặn…
Nhân dịp này, Ban Tổ chức tổ chức Hội thảo chia sẻ kinh nghiệm, định hướng triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030, nhằm thảo luận việc lồng ghép mục tiêu của Chương trình giai đoạn 2021-2030 cũng như nội dung, cơ chế triển khai Chương trình giai đoạn 2026-2030.