Cần thiết mở rộng đối tượng được trợ giúp pháp lý
Theo các đại biểu Quốc hội, đây là một chế định pháp luật thể hiện tính nhân văn sâu sắc của chế độ ta. Trợ giúp pháp lý là một lĩnh vực có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật.
Đại biểu Dương Khắc Mai (Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng) góp ý về đối tượng được trợ giúp pháp lý tại khoản 2, Điều 1 của dự thảo Luật, đại biểu đề nghị mở rộng theo hướng bao quát và thực chất hơn.
Cụ thể, cần sửa đổi quy định đối với người dân tộc thiểu số theo hướng không phụ thuộc vào điều kiện cư trú, bởi đây là nhóm đối tượng có nguy cơ bị tổn thương cao và gặp nhiều rào cản trong tiếp cận dịch vụ pháp lý. Bên cạnh đó, cần bổ sung một số đối tượng như: nạn nhân hoặc người đang trong quá trình xác định là nạn nhân của hành vi mua bán người; người bị đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Đây là những nhóm rất cần được hỗ trợ pháp lý kịp thời để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Đại biểu đề xuất sửa đổi khoản 6, Điều 7 theo hướng quy định “người dân tộc thiểu số” mà không gắn với điều kiện cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Bổ sung khoản 8 vào Điều 7, bao gồm các đối tượng: Nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân của hành vi mua bán người; Người dưới 18 tuổi đi cùng theo quy định của pháp luật; Người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Đối với người cao tuổi, đại biểu Dương Khắc Mai đề nghị rà soát lại theo hướng không quy định dàn trải, mà cần gắn với các tiêu chí cụ thể như: người cao tuổi cô đơn, không nơi nương tựa hoặc đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng.
Cùng chung quan điểm về việc cần thiết mở rộng đối tượng được trợ giúp pháp lý (Điều 7), đại biểu Nguyễn Thanh Phong (Đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Long) đề nghị bổ sung thêm các nhóm đối tượng vào diện được trợ giúp pháp lý như: Người có thu nhập thấp (những người có thu nhập dưới mức trung bình nhưng chưa thuộc diện hộ nghèo, vì thực tế họ vẫn không đủ điều kiện kinh tế để thuê luật sư); các đối tượng yếu thế khác (người bị bạo lực gia đình, người bị nhiễm chất độc da cam, người thất nghiệp hoặc mất việc làm do các nguyên nhân khách quan như thiên tai, dịch bệnh, hay khủng hoảng kinh tế).
Ngoài các hình thức thụ động như tư vấn hay tham gia tố tụng khi có yêu cầu, đại biểu đề xuất thêm các hình thức chủ động, đa dạng hóa hình thức trợ giúp như: Tuyên truyền và hỗ trợ trực tiếp (thực hiện tại các trại giam, bệnh viện, khu công nghiệp hoặc những nơi tập trung đông công nhân lao động nghèo); chuyển đổi số (Xây dựng nền tảng trợ giúp pháp lý trực tuyến để người dân, đặc biệt là ở vùng sâu vùng xa, dễ dàng tiếp cận và hiểu biết pháp luật).
Cần luật hóa các tiêu chí chất lượng dịch vụ trợ giúp pháp lý
Về cách tiếp cận chính sách, đại biểu Cao Thị Xuân (Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa) đề nghị cần chuyển mạnh sang bảo đảm quyền tiếp cận công lý. Theo đại biểu, các tài liệu trong hồ sơ dự án luật cho thấy mặc dù phạm vi đối tượng trợ giúp pháp lý đã được quy định khá rộng nhưng trên thực tế vẫn còn một bộ phận người dân gặp khó khăn trong tiếp cận pháp luật mà chưa được thuộc diện được trợ giúp pháp lý. Điều này cho thấy cách tiếp cận hiện nay vẫn còn thiên về quản lý đối tượng, chưa thực sự tiếp cận từ góc độ quyền, chưa bảo đảm quyền tiếp cận công lý một cách chủ động.
Đại biểu Cao Thị Xuân cho rằng, thực tiễn hiện nay cho thấy, ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, người dân có nhu cầu trợ giúp pháp lý rất lớn nhưng lại e ngại không biết hoặc không đủ điều kiện tiếp cận theo các tiêu chí hiện hành. Có những nhóm người gặp khó khăn trong tiếp cận pháp luật, dễ bị tổn thương về mặt pháp lý thì lại chưa được thuộc diện được trợ giúp pháp lý. Trong khi đó việc xác định đối tượng lại chủ yếu dựa trên các nhóm hành chính cụ thể. Trong bối cảnh phát triển mới, đại biểu cho rằng cần nghiên cứu mở rộng theo hướng linh hoạt hơn.
“Tôi đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu bổ sung tiêu chí xác định đối tượng theo hướng dựa trên mức độ yếu thế về pháp lý. Đồng thời giao Chính phủ quy định chi tiết để bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp trong từng giai đoạn phát triển và cũng phù hợp với quan điểm chỉ đạo trong công tác lập pháp hiện nay. Quốc hội chỉ quy định các vấn đề mang tính chất nguyên tắc chính sách, nền tảng Chính phủ được tăng cường thẩm quyền chủ động quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành để đảm bảo tính linh hoạt, nhanh chóng, đồng bộ và khả thi của hệ thống pháp luật”, đại biểu Cao Thị Xuân đề nghị.
Nữ đại biểu Quốc hội đoàn Thanh Hóa cũng cho rằng, chất lượng trợ giúp pháp lý cần coi đây là khâu đột phá. Qua tổng kết thi hành luật cho thấy bên cạnh kết quả tích cực, chất lượng trợ giúp pháp lý giữa các địa phương còn chưa đồng đều. Đây là vấn đề rất quan trọng bởi mục tiêu cuối cùng của chính sách không chỉ là số lượng vụ việc mà hiệu quả bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý. Điều này đặt ra yêu cầu phải chuyển mạnh từ bảo đảm có dịch vụ sang bảo đảm chất lượng của dịch vụ. Đại biểu đề nghị dự thảo luật cần quan tâm hơn đến việc luật hóa các tiêu chí chất lượng dịch vụ trợ giúp pháp lý, đồng thời nghiên cứu cơ chế đánh giá độc lập, gắn trách nhiệm cụ thể của người thực hiện trợ giúp pháp lý, qua đó bảo đảm tính thực chất, tránh hình thức.
Trong khi đó, đại biểu Nguyễn Thị Yến Nhi (Đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Long) quan tâm đến vấn đề cơ chế phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng. Cụ thể, đại biểu đề nghị nghiên cứu luật hóa mô hình Hội đồng phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng” hiện đang được quy định tại Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-TANDTC-VKSNDTC giữa Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao (đã sửa đổi, bổ sung một số điều tại Thông tư liên tịch số 29/2025) vào dự thảo Luật. Bởi theo đại biểu, việc quy định cơ chế phối hợp giữa các cơ quan này chỉ ở cấp độ Thông tư liên tịch nên hiệu lực pháp lý chưa cao, tính ràng buộc trong tổ chức thực hiện còn hạn chế, phần nào ảnh hưởng tới hiệu lực điều phối và hiệu quả thực hiện. Đây cũng là căn cứ quan trọng để Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao, đảm bảo các cơ quan tiến hành tố tụng và tổ chức trợ giúp pháp lý thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thông báo, giải thích quyền được trợ giúp pháp lý, tránh bỏ sót đối tượng.