Một năm đo sức chịu đựng, cũng là năm chứng minh bản lĩnh. Để bước vào 2026, năm mở ra những kỳ vọng mới – điều cốt lõi nằm ở tâm thế của toàn dân tộc sau thử thách.
Những vết hằn thiên tai – “đo sức chịu đựng”
Năm qua là năm mà thiên nhiên liên tiếp thử thách các miền đất nước. Mưa lũ lịch sử xuất hiện ở nhiều vùng: Từ miền Trung chịu ảnh hưởng bởi bão liên tiếp, Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên gánh tổn thất nặng nề, đến miền núi phía Bắc trải qua trận mưa, lũ khiến dân cư bị cô lập. Trong bối cảnh ấy, nhiều xã phải khẩn cấp di dời hàng nghìn hộ; hệ thống giao thông, y tế, trường học và cơ sở sinh kế chịu tổn thất lớn…
Điều đó tác động lên nền kinh tế là rõ ràng: Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng đã nêu tại cuộc họp Chính phủ rằng, chuỗi thiên tai phức tạp khiến tăng trưởng GDP các tháng cuối năm, đặc biệt là quý IV/2025, chịu ảnh hưởng giảm khoảng 0,1%. Đây là con số thể hiện tác động tức thời lên hoạt động sản xuất — nhưng phía sau con số ấy là sinh kế bị xáo trộn, doanh nghiệp nhỏ vừa gượng dậy lại phải đối mặt tổn thất, lao động ở vùng bị ảnh hưởng chịu thiệt thòi.
Năm 2025 cũng cho thấy sức chịu đựng và tính phản ứng của xã hội. Từ Lâm Đồng, Khánh Hòa, TP. Huế, Đắk Lắk, Gia Lai, Quảng Trị, Nghệ An, Hà Tĩnh, đến Lào Cai, Sơn La… hàng đoàn xe cứu trợ nối dài xuyên suốt đất nước. Hình ảnh cán bộ, chiến sĩ dầm mưa bùn, các đội y tế đi vào bản làng, những bếp ăn tập thể được dựng lên… tất cả tạo nên một mạng lưới cứu trợ tức thời, bảo vệ tính mạng nhân dân.
Ở cấp cơ sở, nhiều lãnh đạo xã đã thể hiện sự chủ động quyết đoán. Chẳng hạn, tại xã Đại Lộc (TP Đà Nẵng), theo báo cáo, khi lũ lịch sử vượt năm 2009 khiến khoảng 90% diện tích xã (hơn 14.000 hộ) bị ngập, chính quyền đã di dời khoảng 2.700 hộ và xử lý 84 trường hợp khẩn cấp; xã Avương (TP. Đà Nẵng) phát hiện vệt nứt sườn núi và di dời kịp thời người dân, qua đó tránh thiệt hại về người khi sạt lở diễn ra. Những con số này cho thấy một bức tranh ứng phó rất thực: báo động sớm, di dời kịp thời và đặt con người làm trọng tâm…
Đại biểu Quốc hội Nguyễn Hữu Thông (Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng) chia sẻ góc nhìn: “Đối với nhiều xã, việc vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp trong điều kiện mưa lũ liên tục cũng là một “phép thử”. Tuy nhiên, chính nhờ phân cấp rõ ràng, tinh thần “4 tại chỗ” và quyết đoán của cán bộ cơ sở, nhiều tình huống nguy kịch đã được hóa giải”.
Trong đợt mưa lũ, xã Vu Gia (TP. Đà Nẵng) di dời 460 hộ dân đến nơi an toàn. Đáng chú ý là trường hợp Mẹ Việt Nam anh hùng Lê Thị Năm bị hết bình thở ôxy điều trị giữa đêm, trong khi nước lũ đang dâng lên nhanh, nhân viên y tế và lực lượng hỗ trợ đã dùng ghe nhỏ, mang theo bình ôxy, vượt qua dòng nước chảy xiết đến nhà mẹ. Nhờ sự ưu tiên bảo vệ tính mạng người dân, tất cả các trường hợp cấp cứu nghiêm trọng đều được xử lý kịp thời. Đây là minh chứng cho tinh thần “đặt tính mạng con người lên trước hết” trong thực thi chính quyền cơ sở.
Ở góc nhìn khác, Đại biểu Quốc hội, PGS.TS kinh tế Trần Hoàng Ngân nhấn mạnh: “Trong những ngày qua, chúng ta thật đau lòng khi chứng kiến người dân chống chọi với bão lũ. Rất cần gói tài chính khẩn cấp, tăng bội chi hợp lý, tăng chi ngân sách cho khắc phục hậu quả thiên tai. Đây không chỉ là hỗ trợ trước mắt, mà là đầu tư dài hạn vào hạ tầng và năng lực phòng, chống rủi ro cho tương lai”.
Thống kê cho thấy từ đầu năm đến ngày 27/11/2025, Chính phủ đã xuất cấp hơn 38,2 nghìn tấn gạo, trong đó hơn 27,9 nghìn tấn dành cho khắc phục thiên tai, và 6.794 tỷ đồng ngân sách Trung ương đã hỗ trợ các địa phương khắc phục hậu quả. Những con số ấy thể hiện nỗ lực tài khoá mang tính nhân văn, nhưng qui mô thiệt hại đòi hỏi nhiều hơn cả hành động ngắn hạn.
Đồng tình quan điểm trên, GS.TS Hoàng Văn Cường, chuyên gia kinh tế - tài chính nhận định, việc chuẩn bị một cơ chế tài chính linh hoạt, có thể kích hoạt nhanh cho khắc phục và tái thiết, là thành phần cần thiết để thể chế phát huy hiệu quả trong thời đại thiên tai liên tiếp. Việc này đòi hỏi phối hợp giữa chính sách ngân sách, hệ thống bảo hiểm thiên tai và cơ chế huy động nguồn lực xã hội - trong đó doanh nghiệp tư nhân đóng vai trò chủ động, sáng tạo.
Thử thách của năm 2025 không chỉ đến từ thiên nhiên. PGS.TS Bùi Hoài Sơn đã cảnh báo về “bão tin giả” - một luồng rủi ro mới trong thời đại số. Khi thiên tai diễn ra, các video được tạo bằng AI, hình ảnh cũ được thổi phồng, thông tin sai sự thật lan truyền nhanh, gây hoang mang, chia rẽ và hút nguồn lực cứu trợ vào những hướng không chính thống. Tin giả có thể khiến người dân hiểu sai thực trạng, khiến lực lượng cứu hộ mất thời gian phản bác, thậm chí làm xói mòn niềm tin xã hội.
Câu trả lời cho thách thức này nằm ở tốc độ và chất lượng thông tin chính thống. Trung ương đã có những chỉ đạo kịp thời: Cuộc họp khẩn lúc 2 giờ sáng do người đứng đầu Chính phủ chủ trì dù đang công tác nước ngoài, ngay lập tức đưa ra cơ chế hỗ trợ, xuất cấp gạo, thuốc, huy động lực lượng quân đội, công an, điện lực… vào cuộc. Những hành động quyết liệt ấy, cùng với truyền thông chính thống cập nhật liên tục, đã phần nào lấp đầy “khoảng trống thông tin” để giảm thiểu ảnh hưởng của tin giả.
PGS.TS Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh: “Niềm tin là tài sản quý nhất. Khi Nhà nước “có mặt” nhanh và minh bạch, khi các nền tảng thông tin phối hợp gỡ tin sai, cộng đồng sẽ giữ được sự bình tĩnh cần thiết để cùng vượt qua khủng hoảng”.
Thay đổi thể chế, tạo nền tảng vững chắc
Nếu thiên tai năm 2025 là thử thách của tự nhiên, thì những quyết nghị lớn được Đảng, Quốc hội và Chính phủ thông qua trong năm lại là sự chuyển mình mạnh mẽ của chính trị – thể chế.
Nổi bật trong số đó là cuộc cách mạng sắp xếp tổ chức bộ máy, vận hành chính quyền địa phương hai cấp, cùng với đó là các nghị quyết liên quan đến đổi mới mô hình tăng trưởng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đột phá hạ tầng chiến lược, thúc đẩy nguồn lực phát triển kinh tế tư nhân, cùng hàng loạt cơ chế mới tháo gỡ rào cản trong đầu tư, đất đai, tài chính công…
GS.TS Hoàng Văn Cường đánh giá: “Năm 2025 không chỉ là năm chịu đựng, mà là năm quyết nghị những thay đổi nền tảng. Chúng ta đã bước thêm một nấc về cải cách thể chế – điều tạo ra độ mở rất lớn cho nền kinh tế. Những quyết nghị này không chỉ có ý nghĩa cho năm 2026, mà còn cho cả thập niên tới”.
Ông cho rằng những cải cách lớn, từ phân cấp, phân quyền, đến cải thiện môi trường đầu tư, tái cơ cấu tài chính công – đang mở ra một chu kỳ phát triển mới.
“Thể chế là gốc của mọi gốc. Nếu gốc vững, cây mới bám rễ sâu và vượt qua bão giông. Chúng ta đã có một năm củng cố niềm tin bằng hành động, không chỉ bằng mục tiêu. Đây chính là nền tảng để Việt Nam bước vào năm 2026 với kỳ vọng cao hơn”, GS.TS Hoàng Văn Cường nhấn mạnh.
Có thể thấy rằng, đằng sau những ngày tháng oằn mình của dải đất hình chữ S là sự dẻo dai của người dân và đồng thời là sức bền của một nền kinh tế. Việt Nam khép lại năm 2025 với tăng trưởng GDP dự kiến trên 8%. Một con số không dễ có, nhất là trong bối cảnh thương mại toàn cầu đứt gãy, bất ổn địa chính trị gia tăng, thị trường tài chính quốc tế chao đảo liên tục.
Nhìn lại toàn bộ bức tranh ấy, có thể thấy 2025 là năm “đo sức” ở nhiều tầng nấc: sức của thiên nhiên, sức của thể chế, sức của con người. Và vượt qua tất cả, một điều hiện lên rõ nét: Bản lĩnh quốc gia không đến từ những thời điểm bình yên, mà được rèn từ lúc thử thách chồng chất nhất.
Bản lĩnh hình thành từ thử thách, tâm thế bước vào năm mới
Đại biểu Quốc hội khóa XV Trịnh Thị Tú Anh nhấn mạnh: “Bản lĩnh giúp chúng ta vượt qua thử thách. Nhưng chỉ khi chuyển đổi thực chất về thể chế, chúng ta mới có thể dựng nên nền tảng vững cho tương lai”.
Tâm thế bước vào 2026 vì vậy cần được định hình từ hai câu hỏi căn bản: Chúng ta đã rút ra gì từ năm 2025 và chúng ta chuẩn bị thế nào để biến bài học thành hành động? Câu trả lời nằm ở ba điểm: tăng sức chống chịu, chuyển đổi thể chế và củng cố niềm tin xã hội. Sức chống chịu gồm hai thành tố: hạ tầng kỹ thuật và năng lực con người.
Đại biểu Quốc hội Nguyễn Hữu Thông nhấn mạnh: “Khi người dân ổn định, doanh nghiệp phục hồi, nền kinh tế sẽ có sức bật. Do đó, an sinh và phục hồi sản xuất là ưu tiên hàng đầu”. Những câu chuyện thực địa là minh chứng cho hiệu quả của phương án “4 tại chỗ” kết hợp với quyết đoán của cán bộ cơ sở.
Sự chuyển dịch tư duy về thể chế, từ quản lý sang kiến tạo, là một bước ngoặt. Các quyết nghị năm 2025 hướng tới hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh cải cách thủ tục, thúc đẩy đầu tư công hiệu quả và minh bạch. GS.TS Hoàng Văn Cường khẳng định: “Thể chế tốt là tiền đề để mọi chính sách kỹ thuật phát huy hiệu quả. Nếu thể chế bắt nhịp, nguồn lực sẽ chảy đúng chỗ; nếu thể chế chậm, mọi nỗ lực đều kém hiệu quả”.
Thể chế cũng phải mở đường cho đổi mới sáng tạo: chuyển đổi số trong quản trị rủi ro, ứng dụng mô hình dự báo, sử dụng dữ liệu thời gian thực để ra quyết định. Đó không phải là chuyện của tương lai xa mà là yêu cầu cấp thiết trong năm 2026.
Niềm tin - tài sản vô hình nhưng then chốt
Niềm tin xã hội được củng cố khi người dân thấy Nhà nước hành động kịp thời, minh bạch và có trách nhiệm. Hành động xuất cấp gạo, huy động ngoại lực, chỉ đạo khẩn cấp của Trung ương và việc các lãnh đạo địa phương trực tiếp chỉ huy cứu hộ đã góp phần phục hồi niềm tin.
PGS.TS Trần Hoàng Ngân nhấn mạnh rằng niềm tin còn phải gắn với chiến lược kinh tế: “Chúng ta phải biến niềm tin đó thành nền tảng để huy động nội lực, kích hoạt thị trường nội địa hơn 100 triệu dân, và tận dụng các hiệp định thương mại để nâng hàm lượng giá trị gia tăng xuất khẩu”.
Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn bất định, Việt Nam vẫn được đánh giá là một trong những nền kinh tế ổn định nhất châu Á.
Niềm tin đó không phải hình thành chỉ trong một năm, nhưng năm 2025 là dấu mốc quan trọng – khi bão lũ và biến động quốc tế tạo ra “phép thử kép” cho hệ thống quản trị và năng lực điều hành.
Đại biểu Quốc hội Trịnh Thị Tú Anh nhìn nhận, tâm thế năm 2026 cần bắt đầu bằng niềm tin vào thể chế, vào năng lực của chính chúng ta. Khi những rủi ro lớn đã được nhìn thẳng và đặt lên bàn nghị sự quốc gia, chúng ta có cơ sở để bước đi tự tin hơn. Một quốc gia có bản lĩnh không phải là quốc gia không gặp biến cố, mà là quốc gia biết chuyển biến cố thành động lực cải cách.
Đại biểu Nguyễn Hữu Thông thì cho rằng tâm thế hướng tới năm 2026 cần xuất phát từ người dân – những người chịu tác động trực tiếp của biến đổi khí hậu và biến động kinh tế: Chúng ta có thể xây dựng những nghị quyết lớn, nhưng cuối cùng, sức mạnh của quốc gia vẫn đến từ tinh thần, sự bền bỉ và đồng lòng của nhân dân. Người dân đã gánh chịu nhiều, đã vượt qua nhiều – và giờ là lúc thể chế, chính sách phải bảo vệ và tiếp sức cho họ mạnh mẽ hơn.
Trong khi đó, GS.TS Hoàng Văn Cường nhấn mạnh yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng sang dựa trên tri thức, đổi mới sáng tạo, và chuyển đổi số – coi đây là “điểm nhấn lớn nhất” cho năm 2026: “Nếu 2025 là năm đo sức, thì 2026 phải là năm tăng tốc. Nền kinh tế muốn bứt phá phải đi vào chiều sâu: khoa học công nghệ, nhân lực chất lượng cao, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn. Chúng ta không thể trông đợi tăng trưởng bằng cách cũ nữa”.
Khi bước sang năm mới, tinh thần cả nước là: Tự tin nhưng không chủ quan; chủ động nhưng không nóng vội; nhân văn và quyết liệt. Tự tin dựa trên nền tảng dữ liệu thực tế: xuất nhập khẩu tăng, FDI cao, du lịch phục hồi mạnh, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng ở cả 34 địa phương. Chủ động nghĩa là đặt công tác phòng, chống rủi ro lên ngang tầm với phát triển; nhân văn nghĩa là đặt con người ở trung tâm mọi quyết sách.
Năm 2025 đã là một phép thử: thử thách, mài giũa và cho thấy điều gì cần được thay đổi. Đi qua những cơn bão, đất nước tích lũy kinh nghiệm, củng cố thể chế và giữ được niềm tin. Bước vào 2026, Việt Nam có cơ sở để tự tin hơn, với tâm thế của một quốc gia đã trưởng thành hơn sau thử thách.