(CLO) Cứ vào 12/2 Âm lịch hằng năm, người dân khắp nơi trong vùng làng rèn Tây Phương Danh, thị trấn An Nhơn, huyện Đập Đá, tỉnh Bình Định cùng bà con tản đi tứ xứ làm nghề đều cùng tụ hội để tổ chức ngày hội làng rèn. Diễn ra liên tục trong 3 ngày từ 12/2 âm lịch, (20 - 22/3/2016), lễ hội là dịp để bà con tri ơn ông tổ nghề rèn và giao lưu văn hóa rèn cũng như bày bán các sản phẩm thủ công của làng.
Có một làng rèn lâu đời như thế!
Phương Danh bao gồm bốn xóm nhỏ với sự phân bổ công việc một cách tự nhiên. Bắc Phương Danh chuyên làm nông nghiệp, Nam Phương Danh chuyên làm nghề dệt, Đông Phương Danh chuyên buôn bán, Tây Phương Danh chuyên về nghề rèn.
Giai đoạn thế kỷ XV - XVII, Tây Phương Danh là vùng đất còn hoang sơ, người Việt di cư vào đây khai hoang, lập làng. Cuối thế kỷ XVIII, nghĩa quân Tây Sơn chọn vùng này làm nơi chăn nuôi, huấn luyện ngựa và sản xuất binh khí. Làng rèn Tây Phương Danh lúc bấy giờ không chỉ sản xuất binh cụ mà còn là nơi cung cấp vũ khí cho phong trào nông dân Tây Sơn. Những chủng loại vũ khí này giờ đây được gìn giữ, bảo quản và giới thiệu tại Bảo tàng như những trang sử vàng ghi lại công sức của các cổ nhân làng Phương Danh xưa đã miệt mài và kiên nhẫn luyện từ quặng sắt mà thành. Trong kháng chiến chống Pháp và Mỹ, làng rèn Phương Danh cũng là một trong những nơi cung cấp vũ khí cho phong trào cách mạng giải phóng dân tộc.
Tương truyền, vị tổ làng rèn Tây Phương Danh là Đào Giã Tượng, ông là người từ miền Bắc vào đây khai hoang lập làng. Trên bước đường di cư, ông đã mang theo nghề rèn, hằng mong lập nghiệp trên vùng đất mới. Những người thợ rèn đầu tiên của Phương Danh đã làm ra con dao, cái cuốc, lưỡi liềm, lưỡi mác, lưỡi cày cho những bàn tay lao động cần cù khai phá vùng đất Cỏ Thơm như sử sách đã ghi lại, một địa danh huấn luyện ngựa của Nhà Tây Sơn, kế tiếp là làng ven đô kinh thành Hoàng Đế của triều đại Tây Sơn.
Làng Tây Phương Danh hiện có 436 hộ dân thì đã có đến 400 hộ đang làm nghề rèn. Trải qua thời binh biến, giặc giã, nghề rèn vẫn được duy trì và phát triển đến tận ngày nay. Đến trước ngày giải phóng (1975) đã là 100 lò và đến bây giờ là hơn 400 lò, mỗi lò có từ 2-3 lao động tham gia làm nghề với mức thu bình quân 30.000 đồng/người/ngày.
Sản phẩm của làng chủ yếu là các loại cuốc, cúp (yết), xẻng, rựa, dao, liềm, rìu, đồ thợ mộc, thợ nề, kéo, lưỡi cày, bẫy chuột, móng ngựa… Các lò rèn đều có sự chuyên môn hóa, mỗi lò chỉ sản xuất một hoặc vài sản phẩm nhất định. Có lò chỉ chuyên sản xuất các loại kéo, hay chỉ chuyên sản xuất rựa và dụng cụ thợ mộc, lò thì lại chuyên sản xuất lưỡi liềm… Một phần do sự chuyên môn hóa nên việc sản xuất ở mỗi lò đều mang tính sản xuất hàng hóa cao, có bí quyết riêng. Cũng là cây cuốc nhưng đây là cuốc kẹp, kia là cuốc tán, rồi cuốc cỏ đậu, đến cuốc xạc cà phê, cuốc làm rừng cao su, cuốc gốc xoắn chòi mía… quả thật là phong phú chủng loại. Sản phẩm không những nổi danh một vùng mà lan tỏa cả về các tỉnh Tây Nguyên và miền Nam Trung bộ.
Làng rèn không chỉ phát triển về số lượng mà chất lượng sản phẩm cũng ngày được nâng cao và đa dạng hóa các chủng loại để đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện nay. Có lò còn nhận cả hợp đồng sản xuất đinh ốc dùng để đóng tàu biển. Sản phẩm của làng rèn Tây Phương Danh hiện có mặt khắp nơi, nhất là các vùng đất Tây nguyên. Cũng từ nghề này, người dân làng rèn đã có cuộc sống ổn định, không ít hộ đã trở nên khấm khá.
Tây Phương Danh - Rộn ràng lễ hội
Cứ như vậy, mỗi độ 12/2 âm lịch, làng rèn Tây Phương Danh lại rộn ràng tổ chức lễ hội để tưởng nhớ người khai sinh ra nghề rèn và cùng nhau giao lưu học hỏi các kĩ thuật làm nghề để phát triển nghề rèn truyền thống của làng. Lễ hội này không những quy tụ những hộ đang làm nghề tại địa phương mà còn lôi cuốn cả những người ngoài tỉnh. Ngoài ra lễ hội còn thu hút sự tham gia của những nghề có liên quan đến nghề rèn như nghề sắt. Có nhiều hộ đã mang nghề truyền thống của làng mình đi lập nghiệp phương xa như Đồng Nai, Đăk Lăk, Kon Tum, Lâm Đồng cũng không bỏ lỡ dịp này, sắp xếp về quê cho bằng được để tận hưởng giây phút thiêng liêng hướng về nguồn cội, trẩy hội cùng bà con thôn làng.
Đúng 4 giờ sáng ngày 12/2 âm lịch, các vị bô lão trong làng nghề trang trọng trong những bộ lễ phục truyền thống với sự có mặt của hàng ngàn người dân trong nghề, tất cả đều trang nghiêm đứng trước bàn thờ Tổ và các bậc tiền hiền khai sinh ra nghề, đồng thanh khấn nguyện cho quốc thái dân an, bày tỏ lòng biết ơn của những thế hệ được thừa hưởng nghề đối với tiền nhân và cầu xin cho sự phồn vinh luôn ưu ái với nghề rèn. Sau đó, cả một vùng nông thôn tưng bừng hẳn lên với nhiều hoạt động văn hóa nghệ thuật sôi nổi như: Hát bộ truyền thống, các trò chơi dân gian (kéo co, đập ấm…) và các chương trình văn nghệ quần chúng của lực lượng thanh niên.
Về Phương Danh trong những ngày này, khách thăm sẽ được nhìn thấy một vùng quê rạng rỡ với những con đường làng được dọn dẹp phong quang, tất cả mọi căn nhà đều tinh tươm, nam thanh nữ tú với những bộ trang phục đẹp rộn ràng khắp các nẻo đường đi trẩy hội. Và đặc biệt, nhà nào cũng hương khói ấm áp tưởng nhớ cụ tổ của nghề rèn.
Nghề rèn ở Tây Phương Danh được lưu truyền đến nay theo “cha truyền con nối”. Các thành viên trong gia đình cùng giúp đỡ nhau thực hiện các khâu để làm ra sản phẩm. Thường thì công việc quai búa, nung sẽ do người đàn ông đảm nhiệm vì cần nhiều sức. Tuy nhiên, ở một số hộ, các cô, các chị cũng có thể làm công việc này. Hiện làng rèn Tây Phương Danh đang đứng trước những khó khăn: Quy mô sản xuất nhỏ lẻ, vốn đầu tư ít dẫn đến việc cải tiến công nghệ và ứng dụng khoa học kỹ thuật còn nhiều hạn chế. Sự tồn tại của làng nghề tuy mang ý nghĩa về bảo tồn ngành nghề truyền thống, nét văn hóa đặc trưng của dân tộc, nhưng do thiếu khả năng hiện đại hóa công nghệ nên sản phẩm chưa được tinh xảo, chất lượng, mẫu mã, giá thành chưa đáp ứng yêu cầu của thị trường... Để khắc phục dần những hạn chế này, mới đây UBND thị trấn Đập Đá đã phối hợp cùng UBND huyện An Nhơn đã tổ chức cho một số nghệ nhân làng nghề đi tham quan các tỉnh miền Bắc để học hỏi, trao đổi kinh nghiệm về nghề rèn. Theo đó, các nghệ nhân lớn tuổi của làng rèn cũng mong muốn lớp trẻ kế nghiệp tốt hơn, nắm bắt được thị hiếu của người tiêu dùng, tìm được thị trường tiêu thụ sản phẩm để đẩy mạnh sản xuất. Hi vọng rằng, với những nỗ lực vươn lên của làng rèn và sự quan tâm hỗ trợ của Nhà nước, làng rèn Tây Phương Danh sẽ ngày càng phát triển và hưng thịnh hơn nữa.
Cụ Thừa Lâm, người cao niên nhất làng rèn hiện nay thủ thỉ: “Nghề rèn này không thể chết đi được. Bởi có biết bao nhiêu việc trong cuộc sống này cần đến các vật dụng mà nghề rèn làm ra. Giả dụ như bà con trên rừng thì cần có cái rựa để chặt cây phát cỏ, bà con làm ruộng thì cần có cày, cuốc, lưỡi liềm, các trang trại cũng cần kéo, xẻng, bẫy chuột,… Nói chung còn nhiều việc mà bà con mình cần đến đồ rèn lắm. Nên tui vẫn thường nói chuyện với sắp nhỏ nên cố gắng trau dồi kĩ năng để giữ gìn, phát triển nghề rèn này ngày một tốt hơn, chất lượng tăng lên, để phục vụ bà con cô bác gần xa, cũng là để giúp cho nghề rèn của làng mình ngày một đi lên, cho cuộc sống no đủ, để lửa lò rèn không bao giờ nguội lạnh.” Dứt lời, cụ thong thả nhấp ngụm nước trà trong cái tách con, tằng hắng giọng rồi ngâm nga: “Muốn ăn cơm trắng cá giò – Thì về thụt bễ kéo lò với anh”
Vậy là, Tây Phương Danh lại bước vào một mùa lễ hội làng rèn mới, với những niềm hi vọng rộn ràng khắp đường làng, ngõ xóm.
“Qua làng rèn rập rền tiếng búa
Thép hồng lên hoa lửa đón chào
Yêu nghề dân đỗi tự hào
Không thông kinh sử cũng cao tay rèn.”
Những vần thơ ấy sẽ mãi còn lưu truyền như để nhắc nhở, ngợi ca về một vẻ đẹp của làng nghề, về làng rèn Tây Phương Danh, thị trấn An Nhơn, huyện Đập Đá, tỉnh Bình Định cũng như vẻ đẹp của một đất nước có những con người luôn cần cù và hăng say lao động.
Thảo Trang