Khoảng 20 năm trước, người đàn ông phát hiện nhiễm viêm gan B trong một lần bị ốm. Sau một đợt uống thuốc kháng virus, ông thấy sức khỏe trở lại bình thường nên không tái khám, xét nghiệm định kỳ hay tiếp tục điều trị.
Nhiều năm sau, ông bắt đầu mệt mỏi kéo dài, ăn uống kém, bụng khó chịu rồi ngày càng trướng do có dịch. Khi đến bệnh viện, bệnh đã tiến triển nặng.
“Trước đây tôi cứ nghĩ hết mệt, ăn uống bình thường là bệnh đã khỏi. Không ngờ bệnh vẫn âm thầm tiến triển đến mức này”, người bệnh chia sẻ.
Các bác sĩ xác định ông bị xơ gan nặng, cổ trướng, giãn tĩnh mạch thực quản, nhiễm trùng dịch ổ bụng, thể trạng suy kiệt và phải lọc máu.
Qua khai thác tiền sử, bác sĩ tiếp tục khuyến cáo vợ và các con ông đi xét nghiệm. Kết quả, nhiều thành viên trong gia đình cũng nhiễm virus viêm gan B.
“Chúng tôi chỉ nghĩ bệnh của ai thì chữa người đó, không biết cả gia đình đều cần được xét nghiệm kiểm tra và bảo vệ. Bây giờ tôi không chỉ lo cho chồng mà còn lo cho tương lai của các con, các cháu”, người vợ nghẹn ngào.
Theo các bác sĩ, đây là tình huống không hiếm ở những người nhiễm viêm gan B nhưng không được theo dõi lâu dài. Virus có thể tồn tại trong tế bào gan nhiều năm, gây viêm, hoại tử và xơ hóa mà người bệnh gần như không có triệu chứng.
Cùng nhiễm virus từ mẹ, hai anh em có hai kết quả
Tại Nam Định, hai anh em trai trong một gia đình cùng nhiễm viêm gan B từ mẹ nhưng có cách ứng phó hoàn toàn khác nhau.
Người anh phát hiện bệnh khi kiểm tra sức khỏe. Anh tuân thủ điều trị và tái khám định kỳ, đồng thời đưa vợ đi xét nghiệm. Khi vợ chưa có miễn dịch, anh chủ động cho vợ tiêm vaccine và thực hiện các biện pháp dự phòng cho con.
Sức khỏe người anh hiện ổn định, vợ và các con không nhiễm virus.
Người em không biết mình mang virus. Đến năm 45 tuổi, khi mệt mỏi, chán ăn và vàng da, anh mới đi khám và phát hiện viêm gan B. Kết quả tầm soát sau đó cho thấy vợ và con trai cũng đã nhiễm bệnh.
“Điều khiến tôi ân hận nhất là không biết bệnh để phòng cho vợ con. Bây giờ tôi hiểu rằng chỉ cần một người chủ quan, cả gia đình đều có thể phải gánh hậu quả”, người bệnh nói.
Sau quá trình điều trị tại Viện Y học nhiệt đới Bạch Mai, Bệnh viện Bạch Mai, sức khỏe người đàn ông dần cải thiện. Vợ và con trai được đưa vào quản lý, theo dõi và điều trị.
Hai anh em cùng nhiễm virus từ mẹ, nhưng một người kiểm soát được bệnh và bảo vệ được gia đình, người còn lại phát hiện bệnh khi đã có triệu chứng và kéo theo vợ, con cùng nhiễm.
Không vàng da vẫn có thể tổn thương gan
Trao đổi với phóng viên Báo Nhà báo và Công luận, TS.BS Đỗ Văn Thành, Phó Viện trưởng Viện Y học nhiệt đới Bạch Mai cho biết, viêm gan B thường tiến triển âm thầm. Vàng da, vàng mắt không phải triệu chứng bắt buộc. Nhiều người chỉ mệt mỏi, ăn không ngon, ngủ kém hoặc hoàn toàn không có biểu hiện bất thường.
“Người bệnh không thể dựa vào cảm giác khỏe mạnh để cho rằng virus đã hết hoặc gan không còn bị tổn thương. Khi xuất hiện cổ trướng, xuất huyết tiêu hóa, vàng da hay suy kiệt, bệnh có thể đã ở giai đoạn rất muộn”, bác sĩ Thành cảnh báo.
Để xác định bệnh đang ở giai đoạn nào và có cần điều trị hay không, người nhiễm viêm gan B cần được đánh giá chức năng gan, tải lượng virus HBV DNA, mức độ xơ hóa gan và nguy cơ ung thư gan theo chỉ định của bác sĩ.
Theo chuyên gia, người bệnh cũng không nên tự ý ngừng thuốc kháng virus chỉ vì cảm thấy khỏe. Việc bỏ điều trị có thể khiến virus hoạt động trở lại, tổn thương gan tiếp tục tiến triển và làm tăng nguy cơ biến chứng. Một số trường hợp có thể xuất hiện virus đột biến, kháng thuốc, gây khó khăn cho điều trị sau này.
Các bác sĩ Viện Y học nhiệt đới Bạch Mai nhận định một trong những vấn đề đáng lo hiện nay là nhiều người biết mình nhiễm viêm gan B nhưng không tiếp tục kiểm tra tải lượng virus, mức độ xơ hóa gan hoặc tái khám định kỳ.
Trong khi đó, bệnh vẫn có thể tiến triển ngay cả khi người bệnh cảm thấy khỏe và men gan chưa tăng rõ rệt.
Một người nhiễm, cả gia đình cần được kiểm tra
Viêm gan B lây chủ yếu qua đường máu, quan hệ tình dục và từ mẹ sang con. Trong đó, lây truyền từ mẹ sang con đặc biệt đáng lưu ý bởi trẻ nhiễm virus khi còn nhỏ có nguy cơ cao trở thành người mang virus mạn tính.
Những trẻ này có thể mang virus trong nhiều năm, đối mặt với nguy cơ xơ gan, suy gan, ung thư gan và tiếp tục truyền virus cho thế hệ sau nếu không được phát hiện, quản lý.
Theo các bác sĩ, chuỗi lây truyền này có thể được ngăn chặn nếu người bệnh và gia đình được tầm soát đúng cách.
Phụ nữ mang thai cần xét nghiệm viêm gan B, đánh giá tải lượng virus và điều trị dự phòng khi có chỉ định. Trẻ sinh ra từ mẹ nhiễm virus cần được tiêm vaccine viêm gan B và huyết thanh kháng viêm gan B càng sớm càng tốt sau sinh.
Khi một người được phát hiện nhiễm viêm gan B, vợ, chồng, con cái và những người có nguy cơ trong gia đình cần được xét nghiệm. Người chưa nhiễm và chưa có kháng thể bảo vệ cần tiêm vaccine đầy đủ. Người đã nhiễm cần được theo dõi và điều trị theo chỉ định.
Viêm gan B hiện có thể phòng ngừa và kiểm soát. Tuy nhiên, điều kiện quan trọng là người bệnh phải biết mình nhiễm virus, được theo dõi định kỳ và điều trị đúng khi có chỉ định.
Với người nhiễm virus, cảm giác khỏe mạnh không phải căn cứ để khẳng định bệnh đã khỏi. Với gia đình có người nhiễm, việc xét nghiệm và tiêm phòng cho những người chưa có miễn dịch là bước cần thiết để ngăn virus tiếp tục lan truyền.