Ngăn chặn kẽ hở trong tuyển chọn, thu tiền và quản lý doanh nghiệp
Ngày 5/8, thảo luận tại tổ về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài Chính Phan Văn Mãi (đoàn Vĩnh Long), cho rằng, cần tiếp cận hoạt động đưa người lao động ra nước ngoài theo hướng có định hướng và kiểm soát, không chỉ nhằm giải quyết việc làm hoặc tìm kiếm thu nhập trước mắt.
Theo đại biểu, cần xác định rõ những thị trường, ngành nghề phù hợp để người lao động được làm việc trong điều kiện tốt, có thu nhập cao, đồng thời tích lũy được kiến thức, kỹ năng và nguồn lực tài chính. Sau khi trở về, người lao động có thể tiếp tục phát huy những giá trị đã tích lũy, tạo việc làm, tham gia phát triển kinh tế trong nước và trở thành cầu nối trong hợp tác đầu tư.
Đại biểu cũng lưu ý, trong bối cảnh nhiều ngành kinh tế trong nước đang thiếu nhân lực, việc đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài phải được tính toán hài hòa với nhu cầu phát triển kinh tế và mục tiêu tăng trưởng. Trung ương cần tập trung quản lý định hướng, chính sách, đàm phán thị trường và bảo hộ công dân; đồng thời đẩy mạnh phân cấp cho địa phương trên cơ sở tuân thủ định hướng chung.
Đại biểu Quốc hội Tạ Thị Yên (đoàn Điện Biên) cho rằng, hiệu quả của lần sửa đổi Luật cần được đánh giá bằng ba vấn đề cụ thể: thủ tục có thực sự được cắt giảm; những kẽ hở trong tuyển chọn, thu tiền và quản lý doanh nghiệp có được khắc phục; khi quyền lợi người lao động bị xâm hại có xác định rõ chủ thể phải chịu trách nhiệm hay không.
Nữ đại biểu Quốc hội đề nghị hoàn thiện quy định về hành vi cho người khác sử dụng giấy phép. Không chỉ hành vi trực tiếp sử dụng giấy phép để thực hiện hoạt động dịch vụ, Luật cần nghiêm cấm việc cho người khác sử dụng tên, số, hình ảnh, thông tin hoặc danh nghĩa của giấy phép để quảng cáo, tư vấn, tuyển chọn và thu tiền của người lao động. Đây là biện pháp nhằm ngăn chặn từ đầu tình trạng cho mượn danh nghĩa, bán đơn hàng, mạo danh doanh nghiệp được cấp phép hoặc hình thành các tổ chức trung gian trá hình để tuyển người và thu tiền.
Đối với khái niệm “trực tiếp tuyển chọn”, đại biểu đề nghị phân định rõ những công việc doanh nghiệp bắt buộc phải trực tiếp thực hiện, chịu trách nhiệm và những công việc có thể phối hợp với cơ sở giáo dục nghề nghiệp, trung tâm dịch vụ việc làm công lập hoặc chính quyền địa phương. Doanh nghiệp phải trực tiếp đánh giá, lựa chọn người lao động và chịu trách nhiệm cuối cùng về kết quả tuyển chọn. Tuy nhiên, nếu quy định quá rộng sẽ làm khó hoạt động phối hợp cần thiết; ngược lại, nếu quá nới lỏng có thể phát sinh trung gian trá hình. Vì vậy, cần giao Chính phủ quy định cụ thể ranh giới này.
Bổ sung trách nhiệm của doanh nghiệp công khai kênh thông tin khẩn cấp
Quan tâm đến những rủi ro mà người lao động có thể gặp phải, đại biểu Trần Thị Thanh Lam (đoàn Vĩnh Long) đề nghị, tiếp tục rà soát dự thảo dưới góc độ bình đẳng giới, bảo đảm quyền lợi của cả lao động nam và nữ trong điều kiện làm việc xa gia đình, khác biệt về pháp luật, văn hóa và môi trường sinh hoạt. Đại biểu đề nghị bổ sung trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc thiết lập, công khai kênh thông tin khẩn cấp và quy trình tiếp nhận, xử lý phản ánh khi người lao động bị lạm dụng, bạo lực, quấy rối tình dục hoặc gặp những tình huống bất lợi khác.
Theo đại biểu, doanh nghiệp đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong toàn bộ quá trình từ khi người lao động tiếp cận thông tin, tham gia chuẩn bị nguồn, học giáo dục định hướng, trúng tuyển, xuất cảnh, làm việc tại nước sở tại cho đến khi trở về nước. Vì vậy, trách nhiệm hỗ trợ, bảo vệ người lao động của doanh nghiệp cần được quy định đầy đủ, cụ thể.
Bên cạnh đó, đại biểu Trần Thị Thanh Lam đề nghị bổ sung trách nhiệm xử lý các trường hợp bất khả kháng như tai nạn, thất nghiệp, thiên tai, dịch bệnh, doanh nghiệp nước ngoài cắt giảm đơn hàng hoặc tiền lương. Đây là những tình huống có thể ảnh hưởng trực tiếp đến việc làm, thu nhập, sức khỏe và an toàn của người lao động nhưng chưa được quy định đầy đủ trong nội dung hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
Đối với quy định thời gian chờ xuất cảnh không quá 180 ngày kể từ ngày người lao động trúng tuyển, đại biểu cho rằng thời hạn 6 tháng là quá dài. Phần lớn người lao động phải vay vốn để trang trải chi phí nên việc chờ đợi kéo dài sẽ làm tăng gánh nặng tài chính. Đại biểu đề nghị rút thời hạn chờ xuất cảnh xuống còn 90 ngày; đồng thời quy định rõ thời điểm doanh nghiệp phải hoàn trả chi phí nếu không thực hiện đúng cam kết, tránh tình trạng kéo dài, trì hoãn, làm mất cơ hội tìm kiếm thị trường lao động khác của người lao động.
Đồng thời cần quan tâm hơn đến việc hỗ trợ người lao động sau khi trở về nước. Người lao động khi trở về thường đã tích lũy được kỹ năng, tay nghề và nguồn vốn, nhưng chính quyền địa phương chưa có đầy đủ thông tin để giới thiệu việc làm hoặc hỗ trợ khởi nghiệp. Đại biểu đề nghị tăng cường tổ chức thực hiện các chính sách hiện có, phát huy hiệu quả nguồn nhân lực này trong phát triển kinh tế địa phương.