Cấp GCNQSDĐ lần đầu: Khoảng trống pháp lý khi xác định di sản trong TTHC

Để có góc nhìn sâu sắc hơn về vấn đề này, phóng viên Báo Nhà báo và Công luận đã có cuộc trao đổi với Luật sư Đoàn Tăng Hải (Đoàn Luật sư TP. Hà Nội) – một chuyên gia có nhiều năm kinh nghiệm thực tiễn trong việc giải quyết các tranh chấp đất đai phức tạp tại Hải Phòng.

Phóng viên: Thưa Luật sư Đoàn Tăng Hải, từ câu chuyện tại Hải Phòng và thực tế theo dõi các thủ tục đất đai trên cả nước, ông nhận thấy đâu là rào cản tâm lý cũng như nghiệp vụ lớn nhất khiến quy trình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) lần đầu hiện nay thường xuyên rơi vào tình trạng đình trệ, đặc biệt với quyền sử dụng đất là di sản?

Luật sư Đoàn Tăng Hải: Theo kinh nghiệm tiếp xúc các cơ quan hành chính, tôi cho rằng có lẽ sự bế tắc này có phần xuất phát từ tư duy trong công việc. Hiện nay, đang tồn tại một thực tế đáng suy ngẫm là phần lớn công chức phụ trách đất đai tại các địa phương không qua đào tạo chuyên sâu về luật như Luật sư hay những người làm công tác tố tụng. Nhiều người được bổ nhiệm, luân chuyển chưa đúng chuyên môn khi thực hiện thủ tục hành chính (TTHC) còn dựa vào "kinh nghiệm" cùng tâm lý lo xa vượt quá thẩm quyền.

Tâm lý sợ sai khiến họ đôi khi đang thực hiện TTHC với một lối tư duy “đi tìm sự thật khách quan” hơn là một công chức đang thực thi dịch vụ công. Thay vì đóng vai trò của người thực thi hành chính, họ lại vô tình tự đặt mình vào vị trí của cơ quan tiến hành tố tụng để phân xử các quan hệ dân sự.

Chúng ta cần nhìn nhận rõ nguyên tắc "Chế định thẩm quyền" trong Luật Hành chính: Công chức và cơ quan nhà nước chỉ được làm những gì pháp luật cho phép. Vậy thì, khi xem xét cấp GCNQSDĐ lần đầu, công chức chỉ nên đối chiếu với các điều kiện của Luật Đất đai và bộ Thủ tục hành chính (TTHC) đã công bố. Nếu đủ điều kiện, họ phải cấp GCNQSDĐ vì họ đang thực thi một dịch vụ công theo quy trình có sẵn. Họ không có chức năng "phán quyết" đúng sai trong các tranh chấp tiềm tàng nếu hồ sơ đã đủ điều kiện pháp lý hiện hữu. Khi tự đặt mình vào vị trí phải đánh giá "độ rủi ro", họ đang vô hình trung tạo ra thêm các "giấy phép con" hoặc rào cản hành chính trái luật...

Có một sự khác biệt về nguyên tắc thực thi pháp luật. Trong thực thi TTHC, cần sử dụng “tư duy hành chính”, theo đó căn cứ danh mục hồ sơ, giấy tờ quy định tại Nghị định, Thông tư và bộ TTHC để đạt mục tiêu xác nhận trạng thái pháp lý đủ/không đủ điều kiện để cấp GCNQSDĐ và chịu trách nhiệm về tính hợp lệ của hồ sơ, quy trình.

Ngược lại, khi giải quyết các xung đột lợi ích, Tòa án vận hành bằng “tư duy tư pháp”. Ở đó, thẩm phán được trao quyền năng rộng mở để xem xét toàn diện mọi tình tiết, chứng cứ, lời khai và vận dụng suy luận logic nhằm truy tìm sự thật khách quan, từ đó phân xử đúng – sai một cách triệt để.

Đặc biệt trong lĩnh vực đất đai, bên cạnh các luật gốc như Bộ luật Dân sự hay Luật Đất đai, hệ thống Tòa án còn có một “kho pháp lý” mạnh mẽ là các Án lệ và các Nghị quyết hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TANDTC. Thông qua quá trình tố tụng và xét xử, những công cụ này cho phép thẩm phán bóc tách được những tầng nấc phức tạp nhất của nguồn gốc đất mà một công chức hành chính không thể và không được phép làm, nhằm đảm bảo tính công bằng và thượng tôn pháp luật trong phán quyết cuối cùng.

Điển hình là Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC. Văn bản này đã đưa ra những hướng dẫn rất cụ thể về việc xác định quyền sử dụng đất là di sản do người chết để lại – một công cụ pháp lý mà các cơ quan hành chính hiện nay đang thiếu hoặc không thể vận dụng.

Luật sư Đoàn Tăng Hải và Cộng sự - Chi nhánh tại Hải Phòng công ty Luật TNHH Hoa Nhật Mi
Luật sư Đoàn Tăng Hải và Cộng sự - Chi nhánh tại Hải Phòng công ty Luật TNHH Hoa Nhật Minh

Phóng viên: Vậy tâm lý "nhầm lẫn" thẩm quyền như ông phân tích đã đẩy người sử dụng đất vào những hệ lụy cụ thể nào, thưa Luật sư?

Luật sư Đoàn Tăng Hải: Hệ lụy đầu tiên là sự mệt mỏi của người dân. Khi công chức tự cho mình quyền "thẩm vấn" hồ sơ, họ thường yêu cầu bổ sung những giấy tờ nằm ngoài quy định, tạo ra rào cản tốn kém và thủ tục kéo dài.

Đáng ngại hơn là tình trạng "im lặng hành chính". Vì thiếu căn cứ để phán quyết nhưng lại mang tâm lý "thà không làm còn hơn làm sai", nhiều công chức chọn cách mặc kệ hồ sơ TTHC hoặc chờ xin ý kiến cấp trên thay vì trả lời bằng văn bản rõ ràng theo thẩm quyền của mình.

Điều này không chỉ làm đình trệ nguồn lực đất đai, gây khó khăn cho các cấp quản lý cao hơn, gây thiệt hại kinh tế do mất đi cơ hội của người sử dụng đất mà còn làm xói mòn niềm tin vào một nền hành chính phục vụ. Việc công chức cố thủ trong vùng an toàn của mình bằng cách làm chậm trễ hồ sơ của công dân chính là biểu hiện của sự thiếu trách nhiệm, cản trở sự phát triển của đất nước và đi ngược lại nỗ lực cải cách hành chính của Đảng và Nhà nước.

Phóng viên: Thưa Luật sư, hiện nay có sự bế tắc của người dân khi thực hiện TTHC xin cấp GCNQSDĐ lần đầu liên quan đến sử dụng đất thừa kế từ ông cha để lại. Vậy đâu là những "rào cản" cốt lõi khiến quyền thừa kế đất đai trong trường hợp chưa có GCNQSDĐ trở thành một bài toán không có lời giải?

Luật sư Đoàn Tăng Hải: Sử dụng đất có nguồn gốc ông cha để lại là một thực trạng phổ biến rất đặc thù trong sử dụng đất của người dân Việt Nam. Rào cản phổ biến thiếu giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất. Có thể hiểu nôm na, nguồn gốc “đất do ông cha để lại” là một thực tế lịch sử, minh chứng cho quá trình sử dụng đất ngay tình, liên tục qua nhiều thế hệ.

Chúng ta cần nhìn nhận vấn đề này bằng một sự thấu cảm với người dân. Trong suốt nhiều thập kỷ, ưu tiên lớn nhất của đại bộ phận người dân Việt Nam, đặc biệt là ở các vùng nông thôn, là cuộc cải biến mưu sinh. Họ dành toàn bộ thời gian và tâm sức để canh tác, làm ăn trên mảnh đất của ông cha, cốt sao cho đủ ăn, đủ mặc.

Trong tâm thức của họ, việc mảnh đất không có tranh chấp, được hàng xóm láng giềng và anh em trong họ mặc nhiên thừa nhận cho người trực tiếp quản lý, thờ cúng đã đủ để yên tâm về quyền sử dụng đất. Chính vì áp lực cơm áo gạo tiền, họ không có đủ thời gian, điều kiện hay sự hiểu biết cần thiết để theo đuổi những thủ tục hành chính vốn đã rất phức tạp lại thay đổi liên tục qua từng thời kỳ.

Bên cạnh đó, chúng ta không thể phủ nhận sự lạc hậu của hệ thống hạ tầng dữ liệu địa phương. Qua nhiều thời kỳ lịch sử, từ những đợt đo đạc thủ công bản đồ 299, đến bản đồ kỹ thuật số hiện nay, dữ liệu đất đai tại nhiều địa phương thường xuyên rơi vào tình trạng đứt gãy, thiếu tính kế thừa. Nhiều thửa đất "ông cha để lại" có thông tin trên sổ mục kê một đằng nhưng thực tế sử dụng một nẻo, hoặc hồ sơ gốc đã bị thất lạc, hư hại do chiến tranh và điều kiện bảo quản kém. Khi người dân muốn đăng ký thì lại va phải một "mê hồn trận" các yêu cầu về giấy tờ mà ngay cả cơ quan quản lý cũng không thể cung cấp được bản gốc.

Sự bế tắc của người dân nảy sinh thêm khi cơ quan hành chính “chẻ ngọn ngành” theo tư duy tố tụng. Họ yêu cầu phải định danh chính xác “ông cha” là đời nào, hoặc đòi hỏi chứng minh người đã khuất từ vài chục năm trước. Đáng buồn hơn, sự chậm trễ này vô tình lại là "ngòi nổ" cho những tranh chấp thứ cấp trong gia đình phát sinh khi giá đất tăng cao.

Phóng viên: Thưa Luật sư, bên cạnh sự đứt gãy về dữ liệu đất đai, dường như việc chứng minh quyền thừa kế còn vấp phải một rào cản khác cũng nan giải không kém là hồ sơ nhân thân của các thế hệ trước?

Luật sư Đoàn Tăng Hải: Đúng vậy, đây chính là "cú bồi" khiến người dân hoàn toàn rơi vào bế tắc. Để thực hiện thủ tục thừa kế từ "ông cha", cơ quan chức năng yêu cầu phải có đầy đủ giấy tờ chứng minh quan hệ huyết thống như giấy khai sinh, giấy chứng tử… của các thế hệ qua các thời kỳ. Thế nhưng, trong thực tế lịch sử Việt Nam, việc lưu trữ hồ sơ nhân thân cũng chịu chung số phận nghiệt ngã như hồ sơ đất đai.

Nhiều cụ thân sinh đã mất từ những năm kháng chiến hoặc trong giai đoạn đất nước còn nhiều biến động, hồ sơ hộ tịch tại địa phương hầu như không còn dấu tích. Thậm chí, có những trường hợp thông tin giữa các loại giấy tờ còn sót lại lại mâu thuẫn nhau: tên trong bằng Tổ quốc ghi công khác với tên trên sổ mục kê đất đai, hay ngày sinh tháng đẻ của các bậc tiền bối mỗi nơi ghi một kiểu.

Sự thiếu hụt và sai lệch về giấy tờ nhân thân này khiến việc xác lập "hàng thừa kế" trở thành một nhiệm vụ bất khả thi đối với người dân. Khi người dân không thể cung cấp được một "cây gia phả pháp lý" hoàn hảo như yêu cầu, công chức hành chính thường chọn giải pháp an toàn là từ chối hoặc yêu cầu bổ sung những bằng chứng mà chính họ cũng biết là không tồn tại.

Hệ quả là chúng ta đang đòi hỏi người dân phải thực hiện một nghĩa vụ chứng minh vượt quá khả năng thực tế. Việc thiếu hụt đồng bộ từ dữ liệu đất đai cho đến hồ sơ nhân thân đã tạo nên một "vòng vây" pháp lý, “giam cầm” quyền lợi chính đáng của người sử dụng đất, biến những mảnh đất di sản trở thành gánh nặng thủ tục mà nhiều gia đình phải "lực bất tòng tâm".

Văn bản Số 651/SNNMT-VPĐKĐĐ ngày 17/1/2026 của Sở Nông nghiệp và Môi trường TP. Hải Phòng về việc xử lý, giải quyết kiến nghị của người dân về khó khăn, vướng mắc khi thực hiện thủ tục khai nhận di sản thừa kế.
Văn bản Số 651/SNNMT-VPĐKĐĐ ngày 17/1/2026 của Sở Nông nghiệp và Môi trường TP. Hải Phòng về việc xử lý, giải quyết kiến nghị của người dân về khó khăn, vướng mắc khi thực hiện thủ tục khai nhận di sản thừa kế.

Phóng viên: Vậy đâu là những "xung đột pháp lý" trong vấn đề thừa kế đất đai khi chưa được cấp GCNQSDĐ, thưa ông?

Luật sư Đoàn Tăng Hải: Quay trở lại vấn đề “thừa kế” trong cấp GCNQSDĐ lần đầu, xin trích dẫn công văn số 651/SNNMT-VPĐKĐĐ như sau: “Theo quy định của pháp luật, trường hợp người sử dụng đất đã chết để lại quyền sử dụng đất chưa được cấp GCN thì quyền sử dụng đất đó vẫn được xem là di sản thừa kế…”.

Nhận định này về bản chất là không sai, tuy nhiên cần xem xét kỹ lưỡng tính khả thi trong quy trình cấp GCNQSDĐ lần đầu thì mới đúng trọng tâm. Để một quyền sử dụng đất được công nhận là di sản, phải có căn cứ để xác định người đã chết có quyền đối với tài sản đó?

Điều 45 Luật Đất đai không bắt buộc thửa đất dùng để thừa kế phải có GCNQSDĐ, tuy nhiên trong thực tế điều này hầu như chỉ dành cho việc lập di chúc bằng văn bản không có công chứng.

Rà soát toàn bộ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về đất đai hiện hành, có thể thấy pháp luật mới chỉ tập trung quy định điều kiện cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình và cá nhân đang sử dụng đất, tuyệt nhiên thiếu vắng các quy định hướng dẫn chi tiết về xác lập quyền sử dụng đất là di sản của người đã khuất.

Sự thiếu vắng này dẫn đến một vòng luẩn quẩn về pháp lý khi đối chiếu các quy định hiện hành. Cụ thể, theo Khoản 21 Điều 3 Luật Đất đai, GCNQSDĐ được coi là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất hợp pháp. Trong khi đó, Điều 27 Luật Đất đai lại yêu cầu việc thực hiện quyền thừa kế phải có văn bản được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật về Dân sự và Công chứng.

Mâu thuẫn bắt đầu phát sinh khi Điều 59 Luật Công chứng 2024 quy định việc công chứng văn bản phân chia di sản phải dựa trên giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản của người để lại di sản. Nếu chưa có GCNQSDĐ, việc xác lập văn bản này tại các tổ chức hành nghề công chứng là gần như không thể.

Về chứng thực chữ ký, theo quy định người thực hiện chứng thực không chịu trách nhiệm đối với nội dung trong văn bản nên Điều 25 Nghị định 23/2015/NĐ-CP đã có quy định: các văn bản có nội dung giao dịch, hợp đồng là trường hợp cấm chứng thực chữ ký. Chiếu theo Điều 116 Bộ luật Dân sự, văn bản phân chia di sản chính là một giao dịch dân sự do văn bản này làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ đối với di sản.

Hệ quả tất yếu là người dân rơi vào cảnh “con gà – quả trứng”: muốn cấp GCNQSDĐ lần đầu đối với đất có nguồn gốc thừa kế thì phải có văn bản phân chia di sản, nhưng muốn có văn bản phân chia di sản thì lại chưa có giấy tờ chứng minh quyền sở hữu hợp pháp theo quy định.

Phóng viên: Trong bối cảnh bế tắc về pháp lý như ông vừa phân tích, qua kinh nghiệm thực tế cung cấp dịch vụ pháp lý, xin ông cho biết tại các địa phương hiện nay đang “xoay xở” ra sao để giải quyết hồ sơ TTHC cho người dân đối với trường hợp tương tự?

Luật sư Đoàn Tăng Hải: Theo tôi được biết, thực tế tại nhiều tỉnh thành hiện nay đã nảy sinh một giải pháp mang tính “vận dụng”, đó là yêu cầu người dân lập “Văn bản cử người đại diện hàng thừa kế”. Theo đó, các đồng thừa kế sẽ thỏa thuận cử ra một người đại diện để đứng tên trên GCNQSDĐ cấp lần đầu.

Quy trình này tạo ra một kịch bản hành chính khá rắc rối: người dân làm thủ tục cấp GCNQSDĐ cho người đại diện, sau đó, khi đã cầm GCNQSDĐ trên tay, họ lại phải quay ngược lại cơ quan công chứng để làm thủ tục thỏa thuận phân chia di sản theo đúng trình tự. Cách làm này vô hình trung lại đẩy người dân vào cảnh một việc làm hai lần, vừa tốn kém thời gian, tiền bạc vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro về mặt tranh chấp trong chính nội bộ hàng thừa kế.

Đáng chú ý, xét dưới góc độ pháp lý, hệ thống luật quy định về công chứng hoàn toàn không tồn tại khái niệm “văn bản cử đại diện hàng thừa kế”. Đây thực chất là một loại văn bản “tự sáng tạo” bằng cách ghép nối khiên cưỡng giữa Khoản 2 Điều 656 Bộ luật Dân sự (về thỏa thuận của những người thừa kế phải lập thành văn bản) và quy định của Luật Đất đai cho phép các đồng sở hữu cử người đại diện đứng tên trên GCNQSDĐ. Mục đích nhằm né tránh nghĩa vụ phải xác định người thừa kế thực sự khi di sản chưa đủ điều kiện công chứng.

Tuy nhiên, dù có thay đổi tên gọi thì về bản chất, nội dung của văn bản này vẫn chứa đựng đầy đủ các yếu tố của một văn bản thỏa thuận phân chia di sản như: xác định người để lại di sản; các hàng thừa kế; và tài sản để lại. Việc lập văn bản này vô hình trung khiến người dân và cơ quan thực hiện tự cho mình quyền phán quyết quyền sử dụng đất đó thuộc về ai - lại một vòng luẩn quẩn.

Khi đối chiếu với các quy định đã phân tích, có thể khẳng định loại văn bản này không hợp lệ nếu được công chứng hoặc chứng thực. Nó vi phạm điều cấm nếu thực hiện chứng thực chữ ký và không đủ điều kiện theo quy định khi thực hiện công chứng. Hệ quả là, không chỉ gây phiền hà khi người dân phải thực hiện thủ tục hai lần, phương pháp này còn tạo ra một “quả bom nổ chậm” về rủi ro pháp lý. Một GCNQSDĐ được xác lập dựa trên một văn bản cử đại diện trái luật hoàn toàn có thể bị các đồng thừa kế khác khởi kiện đề nghị Tòa án có thẩm quyền tuyên hủy bất cứ lúc nào.

Phóng viên: Thưa Luật sư, rõ ràng những giải pháp "vận dụng" mà ông vừa nêu chỉ là cách chúng ta đang cố gắng "vá" lại những lỗ hổng tạm thời. Vậy nhìn một cách tổng thể, đâu là căn nguyên cốt lõi của sự bế tắc này và tại sao nó vẫn tồn tại như một nghịch lý kéo dài chưa có lời giải?

Luật sư Đoàn Tăng Hải: Qua nghiên cứu các quy định của pháp luật, tôi thấy có thực trạng bế tắc và những giải pháp tình thế nêu trên, nguyên nhân là đang tồn tại một khoảng trống pháp lý đáng ngại: Thiếu vắng một quy định cụ thể và đồng bộ để xác định quyền sử dụng đất là di sản do người chết để lại trong thực thi TTHC lĩnh vực đất đai.

Điều đáng nói là dù thực tế này diễn ra phổ biến, gây ra nhiều rủi ro tiềm ẩn, nhưng vẫn chưa có một cơ quan nào chính thức lên tiếng hay kiến nghị bổ sung vào hệ thống pháp luật Đất đai để chuẩn hóa quy trình, trả lại sự minh bạch và an toàn pháp lý cho người sử dụng đất.

Phóng viên: Trước một "ma trận" những quy định chồng chéo và khoảng trống pháp lý như ông vừa phân tích, liệu giải pháp duy nhất hiện nay có phải là tiếp tục ban hành thêm các quy định mới để "lấp đầy" hay không, thưa Luật sư?

Luật sư Đoàn Tăng Hải: Không nhất thiết, nhưng nếu có thêm quy định cụ thể thì sẽ tốt hơn cho quá trình thực thi công vụ của cơ quan hành chính.

Cũng như những phân tích từ phần đầu, tôi cho rằng mấu chốt không chỉ nằm ở việc thiếu luật mà còn ở việc tư duy thực thi đúng chức năng. Bởi pháp luật luôn đi sau “đời sống” để giải quyết các mâu thuẫn phát sinh. Nếu chúng ta cứ mãi đợi một hành lang pháp lý hoàn hảo, chi tiết đến từng chân tơ kẽ tóc mới dám thực hiện, thì bộ máy hành chính sẽ mãi rơi vào tình trạng "đứng hình" trước sự vận động không ngừng của các quan hệ xã hội.

Những người có trách nhiệm thực hiện TTHC chỉ cần bám sát danh mục hồ sơ và giấy tờ đã được quy định rõ tại các Nghị định, Thông tư và bộ TTHC hiện hành. Nhiệm vụ duy nhất của họ là xác nhận trạng thái pháp lý đủ hay không đủ điều kiện dựa trên hồ sơ hiện hữu, từ đó chịu trách nhiệm về tính hợp lệ và đúng quy trình của dịch vụ công.

Công chức hành chính cần thoát khỏi tâm lý lo xa quá thẩm quyền, đừng tự gánh lấy chức năng “phán quyết” đúng sai hay cố công tìm kiếm một sự thật tuyệt đối vốn thuộc về thẩm quyền xét xử của Tòa án. Khi sự rạch ròi giữa hành chính và tư pháp được xác lập, mọi áp lực “sợ sai” sẽ được giải tỏa, trả quy trình cấp GCNQSDĐ về đúng quỹ đạo vốn có của nó.

Khi một GCNQSDĐ được cấp dựa trên hồ sơ hợp lệ và đúng quy trình, cơ quan hành chính đã hoàn thành tròn vai trò của mình. Với lối tư duy hành pháp minh bạch này, các quy định của Luật Đất đai hiện hành hoàn toàn đủ cơ sở để thực hiện cấp GCNQSDĐ lần đầu đối với đất có nguồn gốc thừa kế mà không nhất thiết phải yêu cầu người dân thực hiện các văn bản “thỏa thuận phân chia di sản” đầy rắc rối.

Tôi xin dẫn chứng cụ thể, Luật Đất đai đã dành các Điều 137, 138, 139 và 140 để quy định về việc công nhận QSDĐ cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định qua các mốc thời gian, với điều kiện cốt lõi là “không có tranh chấp”. Vậy khi không có yêu cầu cụ thể, công chức thực hiện TTHC đừng bận tâm về vấn đề thừa kế của người sử dụng đất, mà hãy tập trung vào các điều kiện người sử dụng đất ổn định từ thời điểm nào có đáp ứng các điều luật kia không. Mọi tranh chấp phát sinh sau đó về thừa kế (nếu có) sẽ thuộc về thẩm quyền giải quyết của UBND các cấp hoặc Tòa án.

Trong Luật Đất đai hiện hành, có một quy định có thể áp dụng để giải quyết vấn đề thừa kế đất có nguồn gốc do ông cha để lại. Khoản 25 Điều 3 đã định nghĩa rõ ràng về “Hộ gia đình sử dụng đất” dựa trên quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng. Trong khi đó, Khoản 5 Điều 135 đã xác lập một nguyên tắc hết sức thông thoáng: “Trường hợp thửa đất thuộc quyền sử dụng của hộ gia đình thì … Việc xác định các thành viên có chung quyền sử dụng đất của hộ gia đình để ghi tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất do các thành viên này tự thỏa thuận và chịu trách nhiệm trước pháp luật”.

Xét về bản chất, một thửa đất có nhiều đồng thừa kế thực chất là một khối tài sản chung đang tồn tại dưới dạng chưa phân chia. Nếu nhìn nhận qua lăng kính “dây mơ rễ má”, có thể thấy giữa những người được nhận di sản thừa kế theo pháp luật và người để lại di sản luôn tồn tại các mối quan hệ hữu cơ về hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng. Do đó, thay vì bóc tách tài sản này dưới góc độ thừa kế phức tạp, cơ quan hành chính hoàn toàn có cơ sở để xử lý hồ sơ theo hướng công nhận quyền sử dụng đất chung của nhóm người/hộ gia đình, dựa trên sự tự thỏa thuận và tự chịu trách nhiệm của chính những chủ thể trong mối quan hệ đó. Qua đó có thể lập một văn bản tự thỏa thuận mà không cần phải công chứng, chứng thực.

Tinh thần xuyên suốt của pháp luật dân sự là “việc dân sự cốt ở đôi bên”. Triết lý này đã thể hiện rõ nét trong thủ tục cấp GCNQSDĐ lần đầu thông qua việc tôn trọng quyền tự khai, tự thỏa thuận và tự chịu trách nhiệm của người sử dụng đất.

Phóng viên: Có thể thấy, mấu chốt để thực hiện TTHC thông thoáng không chỉ nằm ở việc tạo ra thêm những quy định mới để hoàn thiện hệ thống pháp luật, mà còn ở chính sự nhận thức trong tư duy thực thi TTHC của cơ quan quản lý.

Hy vọng rằng những phân tích thấu đáo và tâm huyết của Luật sư ngày hôm nay sẽ là một lời gợi mở cho các cơ quan chức năng trong việc tháo gỡ bế tắc cho người dân, đặc biệt là tại Hải Phòng trong thời gian tới.

Một lần nữa, xin trân trọng cảm ơn Luật sư Đoàn Tăng Hải về cuộc trò chuyện thẳng thắn và đầy ý nghĩa này!

Xem thêm

Đóng cọc, đặt biển đình chỉ 16 bãi xe không phép ở Hà Nội, nhiều ô tô vẫn mắc kẹt bên trong

Đóng cọc, đặt biển đình chỉ 16 bãi xe không phép ở Hà Nội, nhiều ô tô vẫn mắc kẹt bên trong

(CLO) Sau đợt ra quân xử lý từ ngày 26 đến 31/10, phường Định Công (Hà Nội) đã đình chỉ hoạt động 16/18 bãi trông giữ xe không phép. Dù được thông báo trước, tại một số bãi xe vẫn còn nhiều ô tô chưa được di chuyển ra ngoài khi lực lượng chức năng đóng cọc, đặt biển đình chỉ.

Xử lý hàng loạt trường hợp mua, bán vé xem Concert quốc gia tại Thái Nguyên

Xử lý hàng loạt trường hợp mua, bán vé xem Concert quốc gia tại Thái Nguyên

(CLO) Công an tỉnh Thái Nguyên tuần tra, phát hiện 3 trường hợp mua, bán vé xem Concert quốc gia. Đây là Chương trình nghệ thuật chính luận đặc biệt “Nối vòng tay lớn” được tổ chức tại Sân vận động Thái Nguyên tối 1/11/2026 thuộc chuỗi chương trình Concert quốc gia “Tự hào là người Việt Nam”.

Thái Nguyên khánh thành phố đi bộ trung tâm dài hơn 330m

Thái Nguyên khánh thành phố đi bộ trung tâm dài hơn 330m

(CLO) Tối 31/10, UBND tỉnh Thái Nguyên phối hợp với Công ty cổ phần Đầu tư bất động sản Taseco tổ chức lễ khánh thành Phố đi bộ trung tâm tỉnh Thái Nguyên (Central Square Thái Nguyên), công trình được kỳ vọng trở thành điểm nhấn cảnh quan, văn hóa và thương mại, dịch vụ tại khu vực trung tâm tỉnh.

Hà Nội tập huấn kỹ năng phòng, chống đuối nước cho thanh thiếu nhi

Hà Nội tập huấn kỹ năng phòng, chống đuối nước cho thanh thiếu nhi

(CLO) Sáng 31/10, tại Hà Nội, chương trình tập huấn kỹ năng phòng, chống đuối nước cho thanh thiếu nhi Thủ đô được tổ chức với sự tham gia hướng dẫn của các chuyên gia Nhật Bản, nhằm trang bị kiến thức sinh tồn, kỹ năng tự bảo vệ và ứng phó an toàn với các tình huống nguy hiểm dưới nước.

Tuyên Quang: Hỗ trợ thiết bị vui chơi, học tập cho trẻ em vùng khó khăn

Tuyên Quang: Hỗ trợ thiết bị vui chơi, học tập cho trẻ em vùng khó khăn

(CLO) Trong tháng 10/2026, Trung tâm Công tác xã hội và Quỹ Bảo trợ trẻ em tỉnh Tuyên Quang tổ chức trao tặng thiết bị vui chơi ngoài trời và thiết bị học tập cho các trường học tại 5 xã: Minh Quang, Bình Xa, Quang Bình, Nấm Dẩn và Hồ Thầu, góp phần cải thiện điều kiện chăm sóc, giáo dục trẻ em tại các địa bàn khó khăn.

Gia Lai: Già làng vùng biên nhường đất, chặt điều tìm đồng đội nằm lại chiến trường xưa

Gia Lai: Già làng vùng biên nhường đất, chặt điều tìm đồng đội nằm lại chiến trường xưa

(CLO) Không tiếc đất sản xuất, sẵn sàng chặt bỏ cây trồng để bộ đội tìm kiếm hài cốt liệt sĩ, già làng Siu Pích (xã Ia Dom, Gia Lai) đã góp sức đưa 16 hài cốt liệt sĩ trở về với đất Mẹ. Nghĩa cử ấy không chỉ thể hiện lòng tri ân sâu sắc mà còn tiếp thêm động lực cho hành trình tìm kiếm những người lính đã nằm lại nơi chiến trường xưa.

Nhận diện tiềm năng, tìm “bài toán lớn” cho Đồng Nai phát triển bền vững

Nhận diện tiềm năng, tìm “bài toán lớn” cho Đồng Nai phát triển bền vững

(CLO) Ngày 30/10, các tổ khảo sát của Hội đồng Tư vấn về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thành phố Đồng Nai đã tiến hành khảo sát thực tế tại khu vực Sân bay Long Thành và Khu Bảo tồn Thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai nhằm nhận diện tiềm năng, lợi thế, nguồn lực, khó khăn, vướng mắc để đề xuất các “bài toán lớn” có thể giải quyết hoặc tạo chuyển biến thông qua hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Thái Nguyên gấp rút hoàn thiện không gian tổ chức Festival Trà Quốc tế 2026

Thái Nguyên gấp rút hoàn thiện không gian tổ chức Festival Trà Quốc tế 2026

(CLO) Trước thềm Festival Trà Quốc tế - Thái Nguyên 2026, công tác chuẩn bị tại khu vực Quảng trường Võ Nguyên Giáp và Phố đi bộ Trung tâm đang được gấp rút triển khai với nhiều hạng mục phục vụ chương trình khai mạc vào tối nay 30/10 và các hoạt động trong khuôn khổ Festival. Từ hệ thống sân khấu, thiết bị kỹ thuật đến việc bố trí chỗ ngồi và chỉnh trang cảnh quan xung quanh, không gian tổ chức sự kiện đang dần được định hình.

Căn cứ Hải Phòng thu hồi tài sản công không dùng để ở

Hải Phòng thu hồi tài sản công không dùng để ở

(CLO) Dựa trên hệ thống văn bản pháp luật về quản lý tài sản công, các nghị định của Chính phủ và chủ trương nhất quán qua các thời kỳ, Hải Phòng xác định rõ bản chất và căn cứ pháp lý vững chắc để triển khai thu hồi quỹ nhà, đất không sử dụng vào mục đích để ở nhằm lập lại kỷ cương, triệt để chống thất thoát và lãng phí tài sản nhà nước.  

Hải Phòng sẽ tổ chức duyệt đội ngũ và diễu hành quần chúng kỷ niệm 80 kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống Lực lượng vũ trang thành phố

Hải Phòng sẵn sàng cho lễ duyệt binh quy mô lớn kỷ niệm 80 năm Lực lượng vũ trang thành phố

(CLO) Tháng 11 tới đây, TP. Hải Phòng sẽ tổ chức chuỗi hoạt động quy mô lớn, tâm điểm là chương trình duyệt đội ngũ và diễu hành quần chúng nhằm kỷ niệm 80 năm truyền thống Lực lượng vũ trang thành phố. Sự kiện không chỉ tri ân chặng đường lịch sử vẻ vang mà còn đánh dấu mốc vinh dự đón nhận danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Quảng Ngãi: Trao “cần câu” sinh kế, giúp người dân vùng khó thoát nghèo bền vững

Quảng Ngãi: Trao “cần câu” sinh kế, giúp người dân vùng khó thoát nghèo bền vững

(CLO) Không chỉ hỗ trợ con giống, mô hình nuôi bò cái sinh sản tại xã Ngọk Bay, tỉnh Quảng Ngãi, còn hướng đến tạo sinh kế ổn định, nâng cao thu nhập và giúp người dân chủ động vươn lên thoát nghèo. Với 53 hộ tham gia, 60 con bò cái sinh sản được hỗ trợ, địa phương kỳ vọng mô hình sẽ phát huy hiệu quả, từng bước nhân rộng và góp phần giảm nghèo bền vững.

Chuyện những ‘công dân số’ rẻo cao: Sức bật ngoạn mục của miền núi xứ Lạng

Chuyện những ‘công dân số’ rẻo cao: Sức bật ngoạn mục của miền núi xứ Lạng

(CLO) Huy động hơn 3.917 tỷ đồng cho các dự án trọng điểm, Lạng Sơn đã tạo nên cú hích lịch sử khi 100% xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số chính thức thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn. Động lực cốt lõi làm nên kỳ tích này chính là quá trình số hóa mạnh mẽ, giúp bà con vùng cao tự tin livestream bán đặc sản và làm du lịch chuyên nghiệp.

Gia Lai: Đưa máy bay không người lái xuống đồng ruộng, mở hướng làm nông nghiệp hiện đại

Gia Lai: Đưa máy bay không người lái xuống đồng ruộng, mở hướng làm nông nghiệp hiện đại

(CLO) Từ những thửa ruộng sản xuất theo mô hình “4 cùng”, nông dân xã Ia Hiao (tỉnh Gia Lai) đang từng bước tiếp cận phương thức canh tác hiện đại thông qua ứng dụng thiết bị bay không người lái phun thuốc bảo vệ thực vật. Không chỉ giảm sức lao động, tiết kiệm chi phí, công nghệ này còn mở ra hướng sản xuất an toàn, hiệu quả, góp phần thúc đẩy chuyển đổi số trong nông nghiệp tại địa phương.

Tuyên Quang: Khoa học công nghệ và chuyển đổi số tạo động lực cho sự phát triển bền vững.

Tuyên Quang: Khoa học công nghệ và chuyển đổi số tạo động lực cho sự phát triển bền vững.

(CLO) Nhờ chủ động đổi mới sáng tạo, tỉnh Tuyên Quang đã đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Những giải pháp đồng bộ và quyết liệt này đã tạo bệ phóng vững chắc giúp doanh nghiệp, hợp tác xã tối ưu hóa nguồn lực, gia tăng giá trị nông sản và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường.

Cầu Thăng Long thông thoáng sau khi dỡ rào chắn thi công

Cầu Thăng Long thông thoáng sau khi dỡ rào chắn thi công

(CLO) Sau khi các nhà thầu đẩy nhanh tiến độ, cầu Thăng Long được tổ chức thông xe từ sáng 29/10. Các phương tiện lưu thông bình thường, trong khi công nhân tiếp tục hoàn thiện hệ thống thiết bị cân tải trọng.

Gia Lai: Nuôi cá tầm ở vùng núi sâu, nông dân thu tiền tỷ mỗi năm

Gia Lai: Nuôi cá tầm ở vùng núi sâu, nông dân thu tiền tỷ mỗi năm

(CLO) Rời phố thị lên vùng cao Gia Lai lập nghiệp, những nông dân dám nghĩ, dám làm đã biến lợi thế nguồn nước đầu nguồn, khí hậu mát lành thành cơ hội phát triển nghề nuôi cá tầm nước lạnh. Mô hình mang lại nguồn thu tiền tỷ mỗi năm và mở ra hướng làm giàu mới giữa đại ngàn.

Cỡ chữ bài viết: