Người Xơ Đăng đổi đời nhờ bén duyên với sâm Ngọc Linh
Dãy núi Ngọc Linh quanh năm mây phủ, khí hậu mát mẻ, những cánh rừng tự nhiên rộng lớn không chỉ tạo nên cảnh quan hùng vĩ mà còn là môi trường thuận lợi để cây sâm Ngọc Linh sinh trưởng.
Từ lâu, loại dược liệu quý này đã gắn bó với đời sống người Xơ Đăng. Với vị đắng, mùi thơm đặc trưng, sâm Ngọc Linh được bà con xem như một loại thuốc quý, chỉ dùng khi thật sự cần thiết. Không chỉ có giá trị về dược liệu, loại cây được ví như “Quốc bảo” này còn mở ra hướng phát triển kinh tế đầy triển vọng, giúp nhiều hộ đồng bào Xơ Đăng thay đổi cuộc sống.
Dẫn chúng tôi tham quan vườn sâm của gia đình, anh A Chung (45 tuổi, thôn Đắk Sơn, xã Măng Ri) không giấu được niềm vui khi nhìn thấy khối tài sản tiền tỷ đang ngày ngày lớn lên dưới tán rừng Ngọc Linh.
Anh Chung chia sẻ: “Gia đình là một trong những hộ tiên phong trồng sâm Ngọc Linh tại địa phương. Năm 2007, từ sự vận động và hỗ trợ của cán bộ địa phương, anh được tặng 500 cây giống để đưa về trồng dưới tán rừng.
Những ngày đầu, việc trồng và chăm sóc sâm không tránh khỏi khó khăn do thiếu kinh nghiệm, kỹ thuật. Tuy nhiên, với sự kiên trì cùng quá trình tích lũy kiến thức, anh từng bước mở rộng diện tích, nhân giống và phát triển vườn sâm”.
Sau gần 20 năm, từ 500 cây giống ban đầu, vườn sâm của gia đình anh đã phát triển lên hơn 20.000 cây. Mỗi năm, anh lựa chọn những củ đủ lớn để thu hoạch, cung cấp ra thị trường, mang lại nguồn thu khoảng 1-1,5 tỷ đồng. Nhờ cây sâm Ngọc Linh, gia đình anh đã thoát nghèo từ năm 2016, cuộc sống ngày càng khấm khá.
Theo anh Chung, quá trình phát triển vườn sâm của gia đình luôn có sự đồng hành của chính quyền địa phương. Thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, người dân được hỗ trợ cây giống, tham gia các lớp tập huấn, hội thảo để tiếp cận kiến thức, kỹ thuật trồng và chăm sóc sâm.
Không chỉ trao cây giống, cán bộ địa phương còn trực tiếp lên rừng hướng dẫn bà con lựa chọn vị trí trồng, chăm sóc và bảo vệ cây sâm dưới tán rừng tự nhiên. Nhờ đó, người dân từng bước làm chủ kỹ thuật, chủ động mở rộng sản xuất, phát huy lợi thế sẵn có của địa phương.
Không riêng gia đình anh Chung, nhiều hộ đồng bào Xơ Đăng ở xã Măng Ri cũng đang từng bước đổi đời nhờ phát triển cây sâm Ngọc Linh và các loại dược liệu có giá trị kinh tế cao.
Ông A Đức (65 tuổi, thôn Long Hy, xã Măng Ri) cho biết, hơn 15 năm qua, người dân Xơ Đăng đã chuyển dần từ việc khai thác sâm tự nhiên sang bảo tồn, nhân giống và khoanh nuôi, phát triển sâm dưới tán rừng. Nhờ giá trị kinh tế cao, cây sâm ngày càng khẳng định vị trí trong cơ cấu cây trồng chủ lực của địa phương.
“Nhờ có sâm Ngọc Linh, xã nay thay đổi nhiều lắm. Có điện, đường, trường, trạm, con cháu đi học thuận lợi hơn. Bà con trồng lúa, mì, cà phê, bời lời cũng dễ bán, xe vào tận nơi thu mua”, ông Đức chia sẻ.
Hiện nay, toàn xã Măng Ri có hơn 4.787ha cây trồng nông nghiệp và dược liệu. Trong đó, sâm Ngọc Linh gần 2.487ha, cây đẳng sâm và các loại dược liệu khác khoảng 1.100ha, cà phê gần 1.200ha. Thu nhập bình quân đầu người đạt gần 30 triệu đồng/năm.
Nâng cao năng lực cơ sở, đưa chính sách đến đúng người dân
Ông Nguyễn Cửu Thắng - Phó Chủ tịch UBND xã Măng Ri, cho hay địa phương có nhiều lợi thế về điều kiện tự nhiên, trong đó đất nông nghiệp chiếm hơn 97% diện tích tự nhiên. Địa hình cao, khí hậu mát mẻ tạo điều kiện thuận lợi để phát triển sâm Ngọc Linh và nhiều loại cây dược liệu có giá trị kinh tế.
Đặc biệt, sâm Ngọc Linh được ví như “Quốc bảo” đã trở thành một trong những cây trồng chủ lực, tạo sinh kế và nguồn thu nhập đáng kể cho người dân, doanh nghiệp trên địa bàn. Từ giá trị kinh tế của loại cây này, nhiều hộ đồng bào Xơ Đăng có thêm nguồn lực đầu tư sản xuất, cải thiện nhà ở và từng bước vươn lên khá giả.
Theo ông Thắng, với đặc thù là địa bàn miền núi, tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số cao, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với xã Măng Ri.
Nguồn lực từ chương trình không chỉ hỗ trợ người dân phát triển sản xuất, tiếp cận cây giống và kỹ thuật canh tác mà còn góp phần nâng cao năng lực tổ chức thực hiện chính sách tại cơ sở. Qua đó, địa phương có thêm điều kiện lựa chọn, xây dựng những mô hình sinh kế phù hợp với điều kiện tự nhiên, tập quán sản xuất và nhu cầu thực tế của người dân.
Đáng chú ý, Tiểu dự án 3 thuộc Dự án 10 của Chương trình tập trung nâng cao năng lực, kiểm tra, giám sát và đánh giá việc tổ chức thực hiện. Thông qua các hoạt động đào tạo, tập huấn, đội ngũ cán bộ thôn, làng từng bước được bổ sung kiến thức, kỹ năng, nâng cao khả năng triển khai chính sách, bảo đảm nguồn lực hỗ trợ đến đúng đối tượng, đúng mục tiêu.
Đây cũng là yếu tố quan trọng giúp các chương trình, dự án không dừng lại ở việc hỗ trợ trước mắt mà hướng đến nâng cao khả năng tự chủ của người dân. Khi được hướng dẫn kỹ thuật, tiếp cận nguồn lực và lựa chọn mô hình sản xuất phù hợp, bà con có thêm điều kiện chủ động phát triển kinh tế, khai thác hiệu quả tiềm năng đất đai, khí hậu và tài nguyên bản địa.
“Chúng tôi xác định, muốn chính sách đi vào cuộc sống thì trước hết cán bộ cơ sở phải hiểu và biết cách hướng dẫn người dân. Từ đó, bà con có thể chủ động tham gia, phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập và từng bước thay đổi cuộc sống”, ông Thắng chia sẻ.