Chuyên gia Bộ Công Thương: Cần nâng cao độ linh hoạt của hệ thống điện Việt Nam

Khi nhiệt điện than bị “tẩy chay”

Tại Tờ trình gửi Chính phủ về việc phê duyệt Đề án quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045, nhiệt điện than giảm tỷ trọng đáng kể trong hệ thống nguồn điện so với hiện nay, cụ thể Nhiệt điện than đến năm 2030 là 40.899 MW, chiếm tỷ lệ 28,4-31,4%.

Đáng chú ý, đến năm 2045 tỷ trọng nhiệt điện than giảm xuống, chỉ chiếm tỷ lệ 15,4-19,4%; nhiệt điện khí (tính cả LNG) tiếp tục tăng lên, chiếm tỷ lệ 23,5-26,9%.

Theo Hội đồng Năng lượng gió Toàn cầu (GWEC), một số dự án sẽ phải chuyển tiếp từ Quy hoạch điện VII sang Quy hoạch điện VIII là do những khó khăn về tiến độ cũng như khả năng huy động vốn, đặc biệt là các dự án nhiệt điện than. Trong thời gian gần đây, việc huy động vốn cho các dự án nhiệt điện than từ các tổ chức tài chính công cũng như tư nhân đã trở nên ngày càng khó khăn, xu hướng này được dự báo sẽ tiếp tục gia tăng trong thời gian tới.

chuyen gia bo cong thuong can nang cao do linh hoat cua he thong dien viet nam hinh 1

Nhà máy điện khí linh hoạt ICE.

Có thể kể đến như Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cam kết ngừng cấp vốn cho các dự án than, khí và dầu vào tháng 5/2021; Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng châu Á (AIIB) dừng đầu tư vào điện than cho các khoản đầu tư năng lượng tại nước ngoài; Ngân hàng Thế giới đưa ra các quy tắc về khí hậu để giảm việc đầu tư vào than.

Với các ngân hàng thương mại, Ngân hàng Standard Chartered dừng đầu tư các dự án than tại Đông Nam Á, bao gồm dự án Vĩnh Tân 3 và Vũng Áng 2; có 3 ngân hàng lớn nhất của Singapore (DBS, OCBC, UOB) cam kết dừng đầu tư các dự án than tại Đông Nam Á từ năm 2019; Ngân hàng Sumitomo Mitsui và Mizuho của Nhật Bản dừng đầu tư các dự án điện than trong nước vào năm 2019; Nhóm Mitsubishi UFJ (MUFJ) và HSBC rút khỏi dự án Vĩnh Tân 3…

Ngoài các tổ chức tài chính toàn cầu, trong vòng một năm qua, số lượng các tập đoàn đa quốc gia đưa ra các cam kết về mục tiêu carbon trung tính ngày càng tăng do chịu nhiều sức ép để giảm phát thải khí nhà kính trong các chuỗi cung ứng, vận hành, sản xuất và dịch vụ của mình.

Hệ thống điện Việt Nam cần có độ linh hoạt

Hiện nay, hệ thống điện Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức khác nhau như: thiếu nguồn cung cấp điện đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng, ô nhiễm môi trường và sự chậm trễ của các dự án nhà máy nhiệt điện lớn. Khi tỷ trọng năng lượng tái tạo (NLTT) sẽ tiếp tục tăng, hệ thống điện của Việt Nam sẽ phải đối mặt với những thách thức mới không chỉ trong việc duy trì độ tin cậy và khả năng phục hồi của hệ thống mà còn trong việc cân bằng nhu cầu tải ròng để đảm bảo hệ thống ổn định. Nếu không có quy hoạch đầy đủ và chi tiết, chi phí sản xuất điện tổng thể có thể tăng lên, mặc dù có sự bổ sung từ nguồn NLTT với chi phí thấp hơn.

Những thách thức trên đặt ra yêu cầu phải tăng cường sự linh hoạt trong hệ thống điện, các chuyên gia quốc tế đến từ Tập đoàn Wärtsilä đã thực hiện một nghiên cứu để tìm hiểu về tác động lên tới 15.8GW nguồn điện than mới trong dự thảo Quy hoạch điện VIII. Nghiên cứu tập trung vào việc tìm ra một cơ cấu công suất tối ưu để đưa ra một phương án thay thế cho 15.8GW điện than mà sẽ gặp khó khăn trong việc thu xếp vốn. Trong tổng công suất 15.8GW, có 5.8GW được quy hoạch trước năm 2030 và 10GW được quy hoạch sau năm 2030. “Mô hình đã đề xuất xây dựng một cơ cấu nguồn điện bao gồm 1.1GW điện mặt trời và 1.3GW điện gió, hỗ trợ bởi 0.7GW điện khí linh hoạt (ICE) trước năm 2030. Lượng công suất này từ các nguồn điện gió, điện mặt trời và điện khí linh hoạt có thể là một giải pháp tối ưu để thay thế cho 5.8GW điện than đã được quy hoạch trước năm 2030”- chuyên gia của tập đoàn Wärtsilä phân tích.

Ngoài lượng công suất năng lượng tái tạo đã được đề xuất trong dự thảo Quy hoạch điện VIII mới đây, nghiên cứu đã đề xuất xây dựng thêm tổng cộng 5.6GW điện gió và 4.9GW điện mặt trời trước năm 2045. Điều này sẽ giúp cho Việt Nam có thể hạn chế thêm việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch và giảm chi phí điện khi nguồn điện tái tạo không sử dụng nhiên liệu và giá thành ngày càng giảm nhanh, đồng thời để giảm lượng khí thải cho hệ thống điện.

Mô hình cũng đề xuất xây dựng thêm 8.5GW điện khí linh hoạt trước năm 2045 để hỗ trợ cho nguồn điện gió và mặt trời trong tương lai do các đặc tính công nghệ ICE phù hợp cho việc cân bằng hệ thống và hạn chế cắt giảm công suất các nguồn tái tạo trong khi đảm bảo nguồn cung ứng điện được ổn định.

Trên cơ sở đó, các động cơ ICE thế hệ mới có ưu điểm có hiệu suất cao và phát thải thấp hơn so với các động cơ Diesel truyền thống, có thể khởi động nhanh và thay đổi công suất nhanh chóng. Các tổ máy phát được lắp đặt theo mô-đun ghép nối giúp giảm thời gian xây dựng, lắp đặt và giảm diện tích chiếm đất.

Theo ông Phạm Minh Thành, Giám đốc Quốc gia Việt Nam, Wärtsilä Energy, hệ thống điện Việt Nam với sự gia tăng tỷ trọng của nguồn năng lượng tái tạo sẽ cần những nhà máy điện ICE linh hoạt để đảm bảo độ tin cậy, khả năng phục hồi và tính ổn định.

Các chuyên gia của tập đoàn Wärtsilä cũng chỉ ra, chi phí hệ thống được giảm thông qua việc thay thế các dự điện than đã được phê duyệt nhưng chưa thu xếp tài chính được bằng tổ hợp năng lượng tái tạo và điện khí linh hoạt có thể lên tới 24 tỷ USD vào năm 2045.

Với sự có mặt của ICE trong hệ thống, tổng chi phí hệ thống sẽ giảm khoảng 180 triệu USD/năm vào năm 2030 và mức tiết kiệm tương tự trong những năm tới có thể đạt được bằng cách xây thêm các nhà máy điện ICE. Bên cạnh đó, các nhà máy điện khí ICE được thiết kế dạng module nên thời gian xây dựng rất nhanh chóng, chỉ trong vòng 12 tháng, tương đương với các nhà máy điện tái tạo, giúp cho việc đảm bảo cung ứng điện nhanh chóng.

Các chuyên gia cũng cho rằng, cần thiết xác định mức đầu tư tối ưu cho các nguồn phát điện mới ở Việt Nam và nghiên cứu xây dựng các cơ chế thị trường cho các nhà máy điện ICE sử dụng LNG trong lưới điện Việt Nam từ năm 2020 đến năm 2050 khi đây là chìa khóa để đảm bảo đáp ứng nhu cầu trong ngắn hạn đồng thời cho phép tích hợp tỉ trọng lớn các nguồn năng lượng tái tạo vào lưới điện.

Đánh giá về giải pháp này, bà Lê Thu Hà, chuyên gia Phòng Phát triển hệ thống điện Viện Năng lượng- Bộ Công Thương - cho rằng trong tương lai cần nghiên cứu các giải pháp để nâng cao độ linh hoạt của hệ thống điện Việt Nam, vừa phải đảm bảo mục tiêu đảm bảo cung cấp đủ điện năng cho sự tăng trưởng phụ tải, vừa cân đối bù đắp điện năng thiếu hụt do một số nguồn chậm tiến độ và đảm bảo ổn định cho hệ thống điện có tỷ trọng lớn các nguồn năng lượng tái tạo.

PV

Xem thêm

Tân Á Đại Thành: Từ nền tảng 33 năm đến sự tiếp nối của thế hệ lãnh đạo thứ ba

Tân Á Đại Thành: Từ nền tảng 33 năm đến sự tiếp nối của thế hệ lãnh đạo thứ ba

Đứng thứ 39 PRIVATE 100 với 1.474 tỷ đồng nộp ngân sách Nhà nước năm 2025, Tân Á Đại Thành ghi nhận thêm một dấu mốc sau 33 năm phát triển. Phía sau kết quả này là hành trình của một Tập đoàn doanh nghiệp gia đình đa ngành với sự đồng hành của nhiều thế hệ, trong đó thế hệ lãnh đạo thứ ba đang ngày càng tham gia sâu vào hoạt động quản trị, điều hành.

EVNNPC duy trì đà tăng trưởng, bảo đảm cung ứng điện và triển khai nhiệm vụ những tháng cuối năm 2026

EVNNPC duy trì đà tăng trưởng, bảo đảm cung ứng điện và triển khai nhiệm vụ những tháng cuối năm 2026

Tháng 8 và những ngày đầu tháng 9/2026, Tổng công ty Điện lực miền Bắc (EVNNPC) bảo đảm cung cấp điện an toàn, ổn định phục vụ sản xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân trên địa bàn 17 tỉnh/thành phố miền Bắc. Đặc biệt, trong dịp Quốc khánh 2/9, EVNNPC bố trí gần 1.000 ca trực tại Tổng công ty và các đơn vị, chủ động chuẩn bị lực lượng, vật tư, thiết bị, phương tiện, sẵn sàng xử lý các tình huống phát sinh. Trước ảnh hưởng của bão số 4 (Narra) và mưa lớn sau bão, cán bộ, công nhân viên EVNNPC đã khẩn trương triển khai khắc phục sự cố, khôi phục cấp điện cho khách hàng tại Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hải Phòng và Bắc Ninh, góp phần bảo đảm đời sống và hoạt động sản xuất, kinh doanh của người dân, doanh nghiệp.

Fed giữ nguyên lãi suất, giá vàng có thể bật tăng mạnh

Fed giữ nguyên lãi suất, giá vàng có thể bật tăng mạnh

(CLO) Giá vàng có thể chỉ phục hồi nhẹ nếu Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản như dự kiến. Tuy nhiên, nếu Fed bất ngờ giữ nguyên lãi suất, kim loại quý có thể tăng mạnh và hướng tới mốc 5.000 USD/ounce trong những tháng tới.

Dòng tiền lớn quay lại dầu khí giữa khủng hoảng năng lượng

Dòng tiền lớn quay lại dầu khí giữa khủng hoảng năng lượng

(CLO) Các văn phòng quản lý tài sản gia đình (family office), quỹ đầu tư và những nhà kinh doanh hàng hóa lớn không chỉ đặt cược vào giá dầu mà đang trực tiếp thâu tóm các tài sản năng lượng, từ mỏ dầu khí đến đường ống và cơ sở xuất khẩu.

35.000 tỷ đồng tranh chấp xây dựng: Vì sao hợp đồng ngày càng trở thành 'điểm nóng'?

35.000 tỷ đồng tranh chấp xây dựng: Vì sao hợp đồng ngày càng trở thành 'điểm nóng'?

(CLO) Các tranh chấp xây dựng đang ngày càng mang tính kỹ thuật, liên quan đến nhiều chủ thể và có giá trị lớn. Với các dự án xuyên biên giới, khác biệt về pháp luật, hợp đồng, ngôn ngữ và cách thức quản trị càng làm rủi ro gia tăng, đòi hỏi doanh nghiệp phải tính đến phương án phòng ngừa ngay từ khi ký kết.

Mỹ khơi thông eo biển Hormuz, vì sao giá dầu vẫn vượt 100 USD?

Mỹ khơi thông eo biển Hormuz, vì sao giá dầu vẫn vượt 100 USD?

(CLO) Mỹ cho biết hoạt động vận tải qua Hormuz đang dần được khôi phục, nhưng lưu lượng thực tế vẫn thấp hơn nhiều so với trước xung đột. Trong khi đó, các tuyến xuất khẩu thay thế của Ả Rập Xê Út cũng gặp sự cố, khiến thị trường tiếp tục lo ngại về nguồn cung và đẩy giá dầu vượt 100 USD/thùng.

Tắt 2G: Việt Nam đã giải quyết bài toán nhiều quốc gia khác đang đối mặt như thế nào?

Tắt 2G: Việt Nam đã giải quyết bài toán nhiều quốc gia khác đang đối mặt như thế nào?

Tắt 2G không phải bài toán mới, nhưng nhiều quốc gia vẫn loay hoay trong việc loại bỏ một công nghệ cũ mà không đẩy hàng triệu người dùng ra khỏi kết nối. Trong bối cảnh đó, quá trình chuyển đổi tại Việt Nam đang cho thấy những tín hiệu tích cực: công nghệ có thể được nâng cấp hiệu quả hơn khi bài toán thiết bị, vùng phủ và người dùng được giải quyết đồng thời.

Bảo Việt - Doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam

Bảo Việt - Doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam

Tập đoàn Bảo Việt (BVH) được vinh danh trong Top 100 doanh nghiệp nhà nước nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam năm 2026 (STATE 100), xếp thứ 61 trong bảng xếp hạng và là doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam. Kết quả tiếp tục ghi nhận những đóng góp tích cực của Bảo Việt đối với ngân sách nhà nước, đồng thời khẳng định vai trò của một doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực tài chính - bảo hiểm đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Đánh giá tác động toàn diện là cơ sở quan trọng để Quốc hội xem xét mở rộng lệnh cấm đối với các sản phẩm thuốc lá

Đánh giá tác động toàn diện là cơ sở quan trọng để Quốc hội xem xét mở rộng lệnh cấm đối với các sản phẩm thuốc lá

Mặc dù thống nhất cao với mục tiêu bảo vệ sức khỏe cộng đồng và hạn chế thanh thiếu niên tiếp cận thuốc lá, các đại biểu tham dự tọa đàm góp ý Dự thảo Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá (sửa đổi) ngày 26/8 cho rằng đề xuất cấm các sản phẩm “thuốc lá khác” vẫn cần được đánh giá đầy đủ và khách quan.

Cỡ chữ bài viết: