Nhân dịp 8/3, 80 năm cuộc bầu cử đầu tiên, cùng nhớ về những nữ nghị sĩ đầu tiên của Quốc hội Việt Nam.
10 đại biểu nữ Quốc hội đầu tiên
Nhiệm kỳ Quốc hội gần nhất - Quốc hội khoá XV đã chứng kiến tỷ lệ đại biểu nữ lên tới 30,26% - mức cao nhất trong nhiều thập kỷ qua. Sự hiện diện của phụ nữ trên Diễn đàn Quốc hội ngày càng tạo dấu ấn mạnh mẽ, không chỉ ở tỷ lệ tham gia mà là mức độ ảnh hưởng thực chất trong quá trình hoạch định, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.
Tuy nhiên, có một điều rất thú vị là ngay từ những ngày đầu của Quốc hội Việt Nam cách đây 8 thập kỷ, đã có những đại biểu nữ vinh dự được cử tri cả nước lựa chọn là những nữ đại biểu Quốc hội đầu tiên của đất nước và nhiều người trong số họ đã để lại những dấu ấn rất đặc biệt.
Lịch sử Quốc hội Việt Nam ghi nhận, phụ nữ không chỉ hăng hái tham gia bầu cử mà còn tham gia ứng cử tại nhiều khu vực trong cả nước. Theo đó, cuộc bầu cử năm 1946 cho thấy, lần đầu tiên trong lịch sử, những nữ công dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nô nức đi bầu cử. Phụ nữ chiếm 48% tổng số cử tri đi bầu cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước. Trong số 333 đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa I của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được bầu thông qua hình thức phổ thông đầu phiếu, có 10 đại biểu nữ, tức chiếm 3%. Theo nhiều nhìn nhận, tuy số đại biểu nữ chỉ chiếm 3% tổng số đại biểu Quốc hội khóa I nhưng chỉ số đó có ý nghĩa mở đường cho phụ nữ tham gia vào cơ quan dân cử khi mà trước đó, thân phận của người phụ nữ trong xã hội rất thấp và quyền chính trị không hề được ghi nhận.
Trở lại với 10 đại biểu nữ Quốc hội đầu tiên của nước ta. Đó là các bà: Nguyễn Thị Thục Viên (đại biểu Hà Nội), Vũ Thị Khôi (đại biểu Bắc Ninh), Trương Thị Mỹ (đại biểu Hà Đông), Lê Phương (đại biểu Hải Dương), Cao Thị Khương (đại biểu Hưng Yên), Tôn Thị Quế (đại biểu Nghệ An), Lê Thị Xuyến (đại biểu Quảng Nam), Trịnh Thị Miếng (đại biểu Gia Định), Nguyễn Thị Thập (đại biểu Mỹ Tho), Ngô Thị Huệ (đại biểu Bạc Liêu).
Những dấu ấn không thể phai mờ
Điều đáng nói, trong số 10 nữ ĐBQH khóa I, nhiều đại biểu tiếp tục được bầu vào Quốc hội các khóa tiếp theo như: Bà Lê Thị Xuyến (ĐBQH các khóa II, III, IV, V); bà Nguyễn Thị Thập (ĐBQH các khóa II, III, IV, V, VI); bà Tôn Thị Quế (ĐBQH khóa II); bà Trịnh Thị Miếng (ĐBQH khóa II, III); bà Ngô Thị Huệ (ĐBQH khóa II, III, IV) và bà Nguyễn Thị Thục Viên (ĐBQH khóa II). Dấu ấn mà họ để lại vì thế cũng hết sức sâu sắc.
Là “trợ thủ đắc lực” cho chồng mình - ông Phan Thanh- nhà tri thức yêu nước nổi tiếng lúc bấy giờ, người cùng các đồng chí Đặng Thái Mai, Võ Nguyên Giáp trong phong trào Mặt trận bình dân, nhất là trong cuộc vận động thành lập Hội Truyền bá quốc ngữ, cùng rất nhiều hoạt động yêu nước trước cách mạng nên đầu năm 1946, bà Lê Thị Xuyến được Mặt trận Việt Minh tỉnh Quảng Nam giới thiệu ra ứng cử đại biểu Quốc hội Khóa I và đã được bầu với số phiếu rất cao.
Trúng cử ĐBQH khóa I, bà Lê Thị Xuyến là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên được bầu vào Ban Thường trực Quốc hội Khóa I. Bà cũng là người nữ đầu tiên được bầu làm Phó Chủ tịch Hội Liên Việt Quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Mặt trận Liên Việt) và Chủ tịch đầu tiên của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, đồng thời có thời gian công tác tại Hội lâu nhất, suốt 32 năm, góp phần quan trọng vào việc đề xuất và thực thi chính sách “nam nữ bình quyền” và nâng cao vị thế của người phụ nữ trong đời sống chính trị và xã hội ở nước ta.
Bà cũng là nữ Phó Chủ tịch đầu tiên của Ủy ban Bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam. Bà cũng là chủ nhiệm đầu tiên của Báo Phụ nữ Việt Nam và phụ trách Nhà xuất bản Phụ nữ trong những năm đầu khi mới thành lập.
Trong số 10 nữ đại biểu Quốc hội đầu tiên có bà Nguyễn Thị Thục Viên (1903 - 1984), một phụ nữ trí thức ngoài Đảng- một nữ giáo viên dạn dày kinh nghiệm rồi trở thành Hiệu trưởng trường Nữ học Đồng Khánh. Bà cũng là nữ đại biểu Quốc hội đầu tiên của Thủ đô Hà Nội và là thành viên nữ duy nhất trong Ban soạn thảo Hiến pháp 1946.
Năm 1951, bà là thành viên đã có mặt trong những phái đoàn ngoại giao đầu tiên do Phó Chủ tịch Quốc hội Tôn Đức Thắng dẫn đầu tham gia hoạt động hợp tác quốc tế. Quốc hội khóa II (1960-1964), bà lại được tín nhiệm trúng cử đại biểu và tiếp tục giữ trách nhiệm Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội. Đồng thời, bà còn là người sáng lập Hội LHPN Việt Nam (1950) và là Phó Chủ tịch hội từ khóa đầu tiên cho đến nhiều khóa liên tiếp sau đó cho đến khi qua đời (năm 1984).
Trong số 10 nữ đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên, nữ đại biểu Nguyễn Thị Thập là nữ đại biểu Quốc hội đầu tiên của tỉnh Tiền Giang và là người từng giữ kỷ lục “3 tháng “băng rừng, vượt núi” vô cùng khó khăn và nguy hiểm để ra kịp dự phiên họp đầu tiên của Quốc hội để thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Những năm tháng sau này, bà Nguyễn Thị Thập đã thể hiện xuất sắc vai trò của mình bền bỉ, được Nhân dân tín nhiệm bầu làm đại biểu liên tục từ khóa I đến khóa VI.
Trên cương vị đại biểu Quốc hội, bà Nguyễn Thị Thập đã có những đóng góp quan trọng, trong đó nổi bật là kiến nghị với Đảng, Nhà nước xây dựng Luật Hôn nhân và Gia đình. Bà Nguyễn Thị Thập cũng là người giữ kỷ lục về thâm niên người đứng đầu tổ chức phụ nữ Việt Nam, với 18 năm liên tục, cũng là người phụ nữ duy nhất có 33 năm liên tục là Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1955-1988). Trên cương vị người đứng đầu tổ chức phụ nữ Việt Nam, bà Nguyễn Thị Thập là một người lãnh đạo Hội xuất sắc. Phong trào “Ba đảm đang” do bà lãnh đạo đã trở thành cao trào cách mạng của phụ nữ.
Một nhân vật hết sức đặc biệt trong số 10 nữ đại biểu Quốc hội nữ đầu tiên là bà Ngô Thị Huệ - phu nhân của cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh. Trong Hồi ức “Tiếng sóng bủa ghềnh” của mình, bà Ngô Thị Huệ từng chia sẻ: “Giữa lúc hầu hết các tỉnh Nam Bộ lần lượt bị giặc Pháp chiếm đóng và sắp tràn đến Bạc Liêu, Tỉnh ủy Bạc Liêu nhận được chủ trương tổ chức bầu Quốc hội vào ngày 6-1-1946. Tôi cũng được Mặt trận giới thiệu ra ứng cử. Nay hai mươi bảy tuổi đời rồi liệu có gánh vác nổi trách nhiệm đại biểu Quốc hội không? Tôi lo sẽ không đủ sức”. Được sự tin tưởng và ủng hộ của nhân dân, bà Ngô Thị Huệ trở thành một trong ba đại biểu nữ thuộc đoàn đại biểu miền Nam của Quốc hội khóa I.
“Đến tháng 10/1946, các đại biểu miền Nam được triệu tập ra họp kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa I mới tới Hà Nội và bước vào… kỳ họp thứ hai. Những gian nan vất vả trên hành trình thực hiện trách nhiệm của một đại biểu dân cử lần đầu tiên không ai biết trước”- bà Ngô Thị Huệ từng chia sẻ về kỷ niệm đầy gian nan khi mất tới nhiều tháng mới có thể tới Hà Nội tham dự kì họp của Quốc hội.
Đầu năm 1947, bà Bảy Huệ trở lại miền Nam tiếp tục hoạt động và được cử vào Ban Thường vụ Thành ủy. Bà tiếp tục tham gia các công tác Ban tổ chức Xứ ủy, Ban Phụ vận, Đảng đoàn Phụ nữ Nam Bộ từ năm 1952 đến năm 1954, làm đại biểu Quốc hội lưu nhiệm (miền Nam) khóa II và III. Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt từng viết về bà: “Ý chí và nghị lực của chị Bảy thể hiện đúng nghĩa là một chiến sĩ cách mạng kiên trung. Chị Bảy Huệ là một biểu tượng rất đẹp của người phụ nữ Nam bộ, người phụ nữ Việt Nam”.