Ngày 7/8, Bộ Tư pháp công bố hồ sơ thẩm định Quyết định của TTCP quy định điều kiện, trình tự, thủ tục chấp thuận việc cho vay ra nước ngoài, bảo lãnh cho người không cư trú của tổ chức kinh tế.
Lộ trình mở cửa cần thận trọng
Theo báo cáo của NHNN, thời gian qua, hoạt động cho vay ra nước ngoài của các tổ chức kinh tế chưa phát sinh nhiều, chủ yếu tập trung ở các Tập đoàn, Công ty lớn và gắn với hoạt động đầu tư ra nước ngoài.
Một số trường hợp không gắn với dự án đầu tư ở nước ngoài nhưng cũng là DN lớn và khoản cho vay có tính đặc thù như: Hoàng Anh Gia Lai cho Chính phủ Lào vay, các Công ty thuộc tập đoàn Samsung cho vay Samsung ở nước ngoài bằng nguồn lợi nhuận giữ lại bằng đồng USD (không mua ngoại tệ trên thị trường)…
Dư nợ cho vay ra nước ngoài của các tổ chức kinh tế tính đến hết quý I/2026 ở mức hạn chế, khoảng 965 triệu USD.
NHNN cho biết các trường hợp cho vay ra nước ngoài, bảo lãnh cho người không cư trú phát sinh trước đây đều được xử lý theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ đối với từng trường hợp cụ thể. Do đó, việc xây dựng dự thảo Quyết định để thể chế hóa quy trình, thủ tục, điều kiện cho vay, bảo lãnh ra nước ngoài là cần thiết để thống nhất thực hiện.
Dự thảo Quyết định được xây dựng gồm 5 Chương 23 Điều.
Theo khuyến nghị của IMF, lộ trình mở cửa các giao dịch vốn, dòng vốn ra nước ngoài bao gồm chuyển tiền ra nước ngoài theo hoạt động cho vay, bảo lãnh cho người không cư trú cần được giám sát, quản lý thận trọng.
IMF cho rằng chưa nên mở rộng hay tự do hóa nhằm đảm bảo phù hợp với bối cảnh nền kinh tế nước ta còn nhiều khó khăn, hạn chế về nguồn vốn đầu tư, tập trung vốn cho phát triển sản xuất kinh doanh trong nước, đảm bảo mục tiêu tăng trưởng Việt Nam.
2 điều kiện then chốt
Với định hướng này, tại Dự thảo Quyết định 2026, NHNN đề xuất khung điều kiện cho vay chặt chẽ nhằm kiểm soát thận trọng dòng vốn ra, ưu tiên các khoản vay gắn liền với dự án đầu tư trực tiếp tại nước ngoài.
Về năng lực bên cho vay, doanh nghiệp cho vay phải có thời gian hoạt động tối thiểu 2 năm đối với khoản vay gắn với dự án hoặc 5 năm đối với khoản vay không gắn với dự án. Doanh nghiệp phải có hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi, không nợ thuế và không có nợ xấu ngân hàng trong 2 năm liền kề; tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu tối đa không quá 3 lần.
Về đối tượng đi vay, nếu gắn với dự án đầu tư, bên đi vay phải là doanh nghiệp ở nước ngoài do nhà đầu tư Việt Nam góp vốn. Nếu không gắn với dự án, bên đi vay phải là công ty mẹ hoặc công ty cùng tập đoàn, tổng công ty.
Về phương án cho vay, doanh nghiệp phải xây dựng phương án cho vay hợp lý, hợp lệ, chứng minh mục đích sử dụng vốn rõ ràng cho hoạt động kinh doanh hợp pháp và có công cụ kiểm soát rủi ro.
Trong đó 2 điều kiện then chốt được thiết kế nhằm bảo đảm an toàn tài chính vĩ mô và phòng ngừa rủi ro chảy vốn ra nước ngoài.
Thứ nhất, đối với các khoản cho vay không gắn với dự án đầu tư ra nước ngoài, doanh nghiệp bắt buộc phải sử dụng nguồn ngoại tệ tự có kết dư từ hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Doanh nghiệp không được mua ngoại tệ bằng Đồng Việt Nam từ các tổ chức tín dụng và không được sử dụng nguồn vốn đi vay trong/ngoài nước để cho vay ra nước ngoài.
Điều kiện này nhằm đảm bảo hoạt động cho vay không gây áp lực lên tỷ giá, thị trường ngoại tệ trong nước cũng như quỹ dự trữ ngoại hối quốc gia; đồng thời ngăn chặn việc doanh nghiệp dùng vốn vay ngân hàng để cấp tín dụng xuyên biên giới.
Thứ hai, đối với khoản cho vay không gắn với dự án đầu tư, tổng dư nợ cho vay của một doanh nghiệp trong 1 năm không được vượt quá 100 triệu USD (hoặc ngoại tệ tương đương).
Đối với khoản cho vay gắn với dự án đầu tư, số tiền cho vay bị khống chế tối đa bằng tổng vốn đầu tư ra nước ngoài trừ đi phần vốn góp.
Quy định trần 100 triệu USD/năm giúp ngăn chặn doanh nghiệp lợi dụng chính sách để chuyển vốn tràn lan hoặc biến hoạt động cho vay thành ngành kinh doanh tiền tệ thường xuyên. Điều này giảm thiểu nguy cơ tổn thất ngoại tệ của nền kinh tế khi xảy ra rủi ro không thu hồi được nợ ở nước ngoài.
Ngoài ra, các khoản cho vay, bảo lãnh từ 1.600 tỷ đồng trở lên thì phải trình Thủ tướng Chính phủ chấp thuận. Đối với các khoản cho vay/bảo lãnh quy mô nhỏ hơn (dưới 1.600 tỷ đồng) và không thuộc diện đặc biệt, doanh nghiệp chỉ cần thực hiện 01 thủ tục hành chính là đăng ký khoản vay, bảo lãnh với NHNN.