56 ngày đêm mưu trí, quyết chiến quyết thắng
Ngày 7/5/1953 được sự thỏa thuận của Mỹ, Chính phủ thực dân Pháp cử tướng Nava làm tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương (thay cho tướng Xa lăng). Nava đã đề ra kế hoạch quân sự với hy vọng trong vòng 18 tháng sẽ giành lấy một thắng lợi quyết định để “kết thúc chiến tranh trong danh dự”.
Ðiện Biên Phủ dần trở thành tâm điểm của Kế hoạch Nava. Bộ chỉ huy quân Pháp đã nhanh chóng biến địa bàn này thành một tập đoàn cứ điểm mạnh giữa vùng rừng núi Tây Bắc. Theo chúng, Ðiện Biên Phủ là một pháo đài không thể công phá được. Nava tự tin tiếp nhận cuộc đụng đầu lịch sử với chủ lực của Việt Minh tại đây và tin rằng Quân đội Việt Nam sẽ phải hứng chịu những tổn thất nặng nề nếu mạo hiểm tiến công tập đoàn cứ điểm Ðiện Biên Phủ.
Về phía ta, với quyết tâm tiêu diệt toàn bộ Tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của địch ở Đông Dương, Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy đã giao cho Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp làm Tổng Chỉ huy Chiến dịch.
Phương châm tác chiến ban đầu của Chiến dịch là “đánh nhanh, thắng nhanh”. Sau hơn một tháng làm công tác chuẩn bị, các đơn vị đã triển khai xong đội hình chiến đấu, sẵn sàng nổ súng theo phương án này.
Tuy nhiên, sau khi đánh giá lại tình hình, thấy còn nhiều bất lợi, Đảng ủy và Bộ Chỉ huy Chiến dịch đã quyết định thay đổi phương châm tác chiến sang “đánh chắc, tiến chắc”; hoãn thời điểm tiến công để tiếp tục làm công tác chuẩn bị, chuyển đổi đội hình, bố trí lại lực lượng theo phương châm tác chiến mới.
Đầu tháng 3/1954, thời gian chuẩn bị mọi mặt cho cuộc tiến công vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ với phương châm “đánh chắc, tiến chắc” đã hoàn thành. Trên chiến trường, ta mở 3 đợt tiến công vào Điện Biên Phủ.
Đợt 1 từ ngày 13/3 đến 17/3/1954. Đúng 8 giờ sáng ngày 13/3/1954, những viên đạn sơn pháo của bộ đội ta bắn vào sân bay Mường Thanh, mở màn của Chiến dịch. Đến 17 giờ 05 phút ngày 13/3/1954, bộ đội ta xuất kích bắt đầu trận đánh mở màn của Chiến dịch Điện Biên Phủ, tiêu diệt gọn cứ điểm Him Lam và Độc Lập, bức hàng cứ điểm Bản Kéo, phá vỡ cửa ngõ phía Bắc của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ; diệt và bắt sống trên 2.000 tên địch, phá hủy 25 máy bay, xóa sổ 1 trung đoàn, uy hiếp sân bay Mường Thanh…
Đợt 2 từ ngày 30/3 đến ngày 30/4/1954, quân ta đồng loạt tiến công các cứ điểm phía Đông phân khu trung tâm thắt chặt vòng vây, chia cắt và liên tục tiến công, kiểm soát sân bay Mường Thanh, hạn chế tiếp viện của địch cho tập đoàn cứ điểm. Đây là đợt tấn công dai dẳng, dài ngày nhất, quyết liệt nhất, gay go nhất, ta và địch giành giật nhau từng tấc đất, từng đoạn giao thông hào. Sau đợt tấn công thứ 2, khu trung tâm Điện Biên Phủ đã nằm trong tầm bắn các loại súng của ta, quân địch rơi vào tình trạng bị động, mất tinh thần cao độ.
Đợt 3 từ ngày 1/5 đến ngày 7/5/1954, quân ta đánh chiếm các cứ điểm phía Đông và mở đợt tổng công kích tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Đêm ngày 6/5/1954, tại đồi A1 trận chiến đấu giữa ta và địch diễn ra quyết liệt, quân ta ào ạt xông lên tiêu diệt các lô cốt và dùng thuốc nổ phá các hầm ngầm kiên cố của địch. Tên quan Tư lệnh chỉ huy đồi A1 và khoảng 400 tên địch còn sống sót đã phải đầu hàng. 17 giờ 30 phút ngày 7/5/1954, lá cờ quyết chiến quyết thắng của quân đội ta đã tung bay trên nóc hầm sở chỉ huy của địch.
“Con Nhím Điện Biên” chính thức thất thủ, lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên nóc hầm De Castries.
Toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ vốn được người Pháp xem là “bất khả chiến bại” đã bị quân và dân ta xóa sổ hoàn toàn.
Dấu mốc mở ra thời đại mới
Chiến thắng Điện Biên Phủ 1954 của quân dân Việt Nam đã đập tan những cố gắng quân sự cao nhất của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, buộc chính phủ Pháp phải ký kết Hiệp định Giơnevơ (7/1954) công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ ba nước Đông Dương, kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ kéo dài 8 năm (1945 - 1954). Đồng thời, chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp kéo dài hàng thế kỷ, mở ra bước phát triển mới cho cách mạng Việt Nam, Lào, Campuchia.
Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Điện Biên Phủ như là một cái mốc chói lọi bằng vàng của lịch sử. Nó ghi rõ nơi chủ nghĩa thực dân lăn xuống dốc và tan rã, đồng thời phong trào giải phóng dân tộc khắp thế giới đang lên cao đến thắng lợi hoàn toàn".
Còn với báo chí và dư luận thế giới, chiến thắng Điện Biên Phủ thực sự là kỳ tích của thời đại Hồ Chí Minh, không chỉ đặt dấu chấm hết cho chủ nghĩa thực dân của Pháp tại Đông Dương, mà còn trở thành nguồn cảm hứng lớn lao, tác động mạnh mẽ tới phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới, đặc biệt là ở những nước thuộc địa châu Phi.
Tờ Guardian (Anh) từng nhận định rằng, chiến thắng Điện Biên Phủ không chỉ đơn thuần là biểu tượng thất bại của Pháp, biểu tượng thắng lợi của Việt Nam mà đó là “dấu mốc mở ra một thời đại mới trên toàn thế giới - thời đại giải phóng dân tộc”. Tạp chí Diplomat cho rằng: “Điện Biên Phủ là một chiến thắng thay đổi lịch sử, đập tan tư tưởng cố hữu cho rằng phương Tây là bất bại, đồng thời cổ vũ cho những cuộc chiến chống chế độ thực dân của các quốc gia khác trên khắp thế giới”.
Nhà nghiên cứu người Anh Peter Hunt thuộc Đại học King’s College London nhận định: “Điện Biên Phủ đã làm thay đổi cả châu Á và ảnh hưởng của nó còn kéo dài tới ngày nay”. Tờ Tin tức, số ra ngày 11-5-1954 ở Indonesia nhận thấy rằng, việc giải phóng Điện Biên Phủ không chỉ là thắng lợi của Việt Nam mà còn “chứng minh nhân dân châu Á có đủ khả năng kết thúc lịch sử của thực dân âm mưu dùng lực lượng vũ trang để thực hiện tham vọng của mình”.