Theo các chuyên gia, khu vực này vẫn còn dư địa tiết kiệm khoảng 20-30% năng lượng, mở ra cơ hội để doanh nghiệp vừa giảm chi phí, vừa nâng sức cạnh tranh và tiến gần hơn tới mục tiêu sản xuất xanh.
Khu công nghiệp trước áp lực năng lượng khi sản xuất tăng tốc
Tính đến cuối năm 2025, Việt Nam có khoảng 536 khu công nghiệp (KCN) được thành lập, trong đó có 434 khu đã đi vào hoạt động và 102 khu đang triển khai. Các KCN tập trung chủ yếu tại những vùng kinh tế trọng điểm của Việt Nam, đặc biệt là Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Hồng.
Bên cạnh đó, theo quy hoạch, cả nước sẽ có khoảng 2.171 cụm công nghiệp (CCN), với tổng diện tích gần 100.000 ha. Hiện đã có 1.053 CCN được thành lập, trong đó 715 CCN đã đi vào hoạt động.
Ông Nguyễn Trọng Hậu, Trưởng phòng Tư vấn Giải pháp, Công ty CP Giải pháp Công nghệ Việt Nam cho biết: Việc phát triển mạnh các KCN, CCN góp phần quan trọng vào quá trình công nghiệp hóa, tạo việc làm và thúc đẩy phát triển công nghiệp tại các địa phương.
Tuy nhiên, sự phát triển không đồng đều giữa các vùng cũng đặt ra áp lực ngày càng lớn đối với hệ thống hạ tầng kỹ thuật, môi trường và đặc biệt là nguồn cung năng lượng.
Ông Hậu phân tích, KCN và CCN là những khu vực tập trung phụ tải năng lượng lớn do có mật độ doanh nghiệp sản xuất cao, quy mô nhà xưởng và dây chuyền lớn, trong khi hoạt động sản xuất thường diễn ra liên tục theo nhiều ca.
“Không chỉ sử dụng điện, các doanh nghiệp còn tiêu thụ nhiều dạng năng lượng khác như nhiên liệu nhiệt, hơi, lạnh và khí nén”, ông Hậu cho biết.
Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn 2026 - 2030, cùng với quá trình công nghiệp hóa tiếp tục được đẩy mạnh, quy mô hoạt động tại các KCN, CNN được dự báo tiếp tục mở rộng.
Số lượng doanh nghiệp và mật độ sản xuất tăng lên, trong khi nhiều ngành có cường độ sử dụng năng lượng cao ngày càng tập trung tại các khu này. Vì vậy, nhu cầu về điện, nhiệt, lạnh, khí nén và nước làm mát cũng gia tăng, kéo theo áp lực về chi phí năng lượng và hạ tầng cung ứng.
Dù vậy, mức tiêu thụ năng lượng trong KCN, CCN không chỉ nằm ở góc độ doanh nghiệp sản xuất, mà còn nằm ở hạ tầng kỹ thuật dùng chung toàn khu.
Trong đó, khu vực dùng chung chủ yếu tiêu thụ điện cho các hệ thống cấp nước, xử lý nước thải, chiếu sáng và phân phối điện.
Trong khi đó, các doanh nghiệp trong KCN, CCN sử dụng đa dạng nguồn năng lượng, từ điện, nhiệt, hơi đến khí nén, lạnh…, với mức tiêu thụ phụ thuộc vào ngành nghề và công nghệ sản xuất.
“Do đó, việc đánh giá tiềm năng tiết kiệm năng lượng cần được thực hiện riêng cho khu vực dùng chung và các doanh nghiệp trong KCN, CCN”, ông Hậu nói.
Tiết kiệm năng lượng, nhiệm vụ không phải của riêng bất kỳ ai
Theo nhiều chuyên gia, các KCN, CCN trong nước vẫn còn dư địa lớn để tiết kiệm năng lượng, với tiềm năng cắt giảm khoảng 20-30% mức tiêu thụ.
Tuy nhiên, để biến dư địa này thành kết quả thực tế, tiết kiệm năng lượng không thể là câu chuyện của riêng doanh nghiệp hay một bộ phận nào, mà cần sự tham gia đồng bộ từ hạ tầng KCN, từng nhà máy đến cơ quan quản lý.
Bởi phía sau mỗi kWh điện tiết kiệm không chỉ là khoản chi phí được cắt giảm, mà còn là áp lực lên hệ thống năng lượng và lượng phát thải được giảm xuống. Vì vậy, sử dụng năng lượng hiệu quả đang dần trở thành một nhiệm vụ chung, vừa mang lại lợi ích kinh tế trước mắt, vừa là yêu cầu tất yếu trong quá trình chuyển đổi xanh và phát triển bền vững.
Ông Nguyễn Trọng Hậu, đối với khu vực dùng chung, các KCN, CCN có thể rà soát, tối ưu hoạt động của hệ thống cấp nước, xử lý nước thải, chiếu sáng và phân phối điện; đồng thời đầu tư thiết bị hiệu suất cao, tăng cường tự động hóa và giám sát mức tiêu thụ năng lượng.
Đối với các doanh nghiệp, cần thực hiện kiểm toán năng lượng để xác định những khu vực, thiết bị tiêu thụ lớn, từ đó xây dựng lộ trình cải thiện hiệu suất đối với động cơ, hệ thống khí nén, nhiệt, lạnh và công nghệ sản xuất.
Ở cấp độ phát triển KCN, ông Hậu cho rằng cần khuyến khích các mô hình KCN sinh thái, thúc đẩy cộng sinh công nghiệp, đồng thời hoàn thiện cơ chế hỗ trợ về kỹ thuật và tài chính cho các dự án tiết kiệm năng lượng.
“Việc sử dụng năng lượng hiệu quả cũng cần được gắn với mục tiêu giảm phát thải và phát triển bền vững”, ông nói.
Những định hướng này đang từng bước được cụ thể hóa tại một số KCN trong nước, thông qua việc tối ưu hạ tầng, sử dụng hiệu quả tài nguyên và thúc đẩy kinh tế tuần hoàn.
Tại Việt Nam, mô hình KCN sinh thái không còn mới và đang được triển khai tại một số địa phương. Một trong những ví dụ là KCN Nam Cầu Kiền (Hải Phòng) được phát triển theo định hướng KCN sinh thái, gắn với kinh tế tuần hoàn và sử dụng hiệu quả tài nguyên.
Tại đây, hơn 1 triệu cây xanh đã được trồng, chiếm khoảng 33% diện tích đất KCN. Hệ thống quan trắc nguồn thải được vận hành tự động, liên tục và truyền dữ liệu về cơ quan quản lý môi trường của thành phố Hải Phòng, qua đó tăng cường khả năng giám sát hoạt động môi trường trong KCN.
Đáng chú ý, KCN đã triển khai dự án điện mặt trời áp mái để phục vụ một phần nhu cầu vận hành. Bên cạnh đó, khoảng 25% lượng nước thải sau xử lý được tái sử dụng cho các mục đích như tưới cây, rửa đường..., qua đó giảm nhu cầu sử dụng nước sạch và tiết kiệm chi phí cho KCN.
Cùng với việc tái sử dụng nước, chủ đầu tư còn đầu tư máy xử lý rác thải hữu cơ của Nhật Bản nhằm tăng khả năng xử lý và tái sử dụng nguồn chất thải phát sinh trong KCN.
Về phía doanh nghiệp, nhiều nhà máy cũng đang chủ động triển khai các giải pháp sử dụng năng lượng hiệu quả. Đơn cử, Công ty TNHH Crystal Martin đã tối ưu hệ thống khí nén thông qua điều chỉnh áp suất, tách đường ống theo từng khu vực sản xuất, hạn chế cấp khí khi không hoạt động, thay thế đường ống và lắp biến tần cho máy nén khí.
Các giải pháp này giúp doanh nghiệp tiết kiệm hơn 180.000 kWh điện mỗi năm, đồng thời giảm chi phí bảo trì, vận hành.
Với hệ thống chiếu sáng, Crystal Martin thay đèn huỳnh quang bằng đèn LED, phân tách công tắc theo khu vực, lắp cảm biến chuyển động và hẹn giờ vận hành. Việc tận dụng ánh sáng tự nhiên tại văn phòng, nhà ăn giúp tiết kiệm khoảng 5.000 kWh điện và 3 tấn CO2 mỗi năm.
Doanh nghiệp cũng đẩy mạnh sử dụng năng lượng tái tạo và thu hồi nhiệt. Hệ thống điện mặt trời mái nhà gồm 3.960 tấm pin, tổng công suất hơn 3.000 kWp, hiện đáp ứng khoảng 15% nhu cầu điện của nhà máy, tương đương khoảng 2.802 MWh/năm và mang lại giá trị tiết kiệm hơn 226.000 USD.
Ngoài ra, hệ thống nước nóng năng lượng mặt trời giúp tiết kiệm hơn 28.000 kWh điện, trong khi nhiệt thải từ máy nén khí được tận dụng để làm nóng nước phục vụ nhà ăn, qua đó tiếp tục giảm nhu cầu năng lượng của nhà máy.
Trong bối cảnh sản xuất tiếp tục tăng tốc, tiết kiệm năng lượng không còn là nhiệm vụ riêng của doanh nghiệp hay cơ quan quản lý, mà cần sự chung tay của toàn bộ hệ sinh thái KCN. Từ chủ đầu tư hạ tầng, từng nhà máy đến cơ quan quản lý, mỗi bên đều có vai trò trong việc sử dụng năng lượng hiệu quả, giảm chi phí và giảm phát thải, qua đó tạo nền tảng cho tăng trưởng xanh và bền vững.