Việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Hà Nội khởi tố Giám đốc Công ty Việt KTV do liên quan đến hành vi sao chép trái phép hàng nghìn tác phẩm âm nhạc để tích hợp vào đầu karaoke phục vụ hoạt động kinh doanh không chỉ thu hút sự quan tâm của dư luận mà còn được xem là dấu mốc đáng chú ý trong công tác thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam.
Trao đổi với phóng viên Báo Nhà báo và Công luận về vụ việc, luật sư Diệp Năng Bình - Trưởng Văn phòng luật sư Tinh Thông Luật, cho rằng: Đây là thông điệp mạnh mẽ cho thấy việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đang chuyển từ tư duy xử lý hành chính là chủ yếu sang áp dụng nghiêm các biện pháp tố tụng đối với những hành vi xâm phạm có quy mô lớn, mang tính thương mại và gây thiệt hại đáng kể cho chủ thể quyền.
Theo ông Bình, động thái này phản ánh quyết tâm của các cơ quan bảo vệ pháp luật trong việc xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch, tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời thực hiện nghiêm các cam kết quốc tế của Việt Nam về bảo hộ quyền tác giả.
Đây cũng là lời cảnh báo đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực karaoke, giải trí, truyền thông, nội dung số và các đơn vị khai thác tác phẩm có bản quyền. Việc sử dụng tác phẩm để kinh doanh phải được thực hiện trên cơ sở được phép của chủ sở hữu quyền hoặc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả tiền bản quyền theo quy định pháp luật. Quyền sở hữu trí tuệ không còn là vấn đề mang tính hình thức mà đã trở thành loại tài sản được Nhà nước bảo vệ nghiêm ngặt.
Có thể đối mặt cả trách nhiệm dân sự, hành chính và hình sự
Phân tích dưới góc độ pháp lý, luật sư Diệp Năng Bình cho biết, nếu cơ quan điều tra xác định có hành vi sao chép các tác phẩm âm nhạc để tích hợp vào đầu karaoke nhằm mục đích kinh doanh mà không được sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác giả hoặc quyền liên quan thì đây là hành vi có dấu hiệu xâm phạm quyền tác giả theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ.
Hành vi sao chép tác phẩm không được phép của chủ sở hữu quyền và khai thác nhằm mục đích thương mại khi chưa được cấp phép hoặc chưa thực hiện nghĩa vụ trả tiền bản quyền đều thuộc nhóm hành vi bị pháp luật nghiêm cấm. Tùy tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả gây ra, tổ chức, cá nhân vi phạm có thể phải chịu trách nhiệm dân sự, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Trong trường hợp chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, người vi phạm có thể bị xử phạt theo Nghị định 341/2025/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quyền tác giả, quyền liên quan. Ngoài hình thức phạt tiền, các biện pháp khắc phục hậu quả như buộc chấm dứt hành vi vi phạm, gỡ bỏ hoặc tiêu hủy bản sao vi phạm, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm cũng có thể được áp dụng.
Đáng chú ý, nếu hành vi được thực hiện với quy mô thương mại và đáp ứng các điều kiện luật định thì người vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan theo Điều 225 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Theo luật sư, trong trường hợp kết quả điều tra xác định khoản thu lợi bất chính khoảng 852 triệu đồng và thiệt hại khoảng 600 triệu đồng như thông tin ban đầu thì vụ việc có dấu hiệu thuộc khoản 2 Điều 225 do đều vượt các ngưỡng luật định về thu lợi bất chính và thiệt hại.
Từ thực tiễn hành nghề, luật sư Diệp Năng Bình nhận định tình trạng sử dụng trái phép các sản phẩm có bản quyền như âm nhạc, phim ảnh, phần mềm hay sách điện tử vẫn còn khá phổ biến.
Một trong những nguyên nhân là nhiều cá nhân, doanh nghiệp vẫn cho rằng việc sao chép tác phẩm trên môi trường mạng là hành vi nhỏ lẻ, không gây thiệt hại trực tiếp nên khó bị xử lý. Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh của công nghệ số khiến việc sao chép, chia sẻ nội dung diễn ra dễ dàng hơn, trong khi nhận thức về quyền sở hữu trí tuệ chưa theo kịp thực tiễn.
Tuy nhiên, theo luật sư, đây là quan niệm tiềm ẩn nhiều rủi ro pháp lý. Mọi hành vi sao chép, phân phối, truyền đạt tác phẩm đến công chúng hoặc khai thác tác phẩm nhằm mục đích thương mại khi chưa được phép của chủ thể quyền đều có thể bị coi là hành vi xâm phạm quyền tác giả.
Rủi ro hiện nay không chỉ dừng lại ở cá nhân trực tiếp sao chép mà còn mở rộng tới doanh nghiệp sử dụng phần mềm không có bản quyền, đơn vị khai thác âm nhạc, phim ảnh hoặc các nền tảng số cung cấp nội dung vi phạm nếu không tuân thủ quy định pháp luật.
Trong bối cảnh Việt Nam ngày càng tăng cường thực thi quyền sở hữu trí tuệ và thực hiện các cam kết quốc tế, tâm lý "xài chùa" không còn là hành vi có thể xem nhẹ mà có thể dẫn đến những hậu quả pháp lý và thiệt hại kinh tế lớn.
Xu hướng thực thi ngày càng nghiêm minh, 'không có vùng cấm'
Theo luật sư Diệp Năng Bình, thời gian gần đây, nhiều vụ việc vi phạm bản quyền đã bị xử lý bằng các biện pháp mạnh hơn, cho thấy công tác thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam đang có sự chuyển biến rõ rệt.
Nếu trước đây, phần lớn các vụ việc được xử lý bằng chế tài hành chính hoặc giải quyết theo hướng bồi thường dân sự thì hiện nay các cơ quan tiến hành tố tụng đã áp dụng chế tài hình sự đối với các hành vi xâm phạm có tổ chức, quy mô lớn hoặc nhằm mục đích thương mại khi đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm.
Xu hướng này phù hợp với chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền, xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm, không có ngoại lệ hay "vùng cấm". Đồng thời góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tác giả, nghệ sĩ, doanh nghiệp; tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch và nâng cao uy tín của Việt Nam trong việc thực hiện các cam kết quốc tế về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực giải trí, truyền thông, karaoke hay kinh doanh nội dung số, luật sư Diệp Năng Bình cho rằng, điều quan trọng nhất là phải thay đổi tư duy từ "được sử dụng nếu chưa ai khiếu nại" sang "chỉ khai thác khi có căn cứ pháp lý cho phép".
Theo đó, trước khi đưa âm nhạc, phim ảnh, chương trình truyền hình, phần mềm hoặc các nội dung số vào hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp cần rà soát tình trạng pháp lý của tác phẩm, ký kết hợp đồng cấp phép với chủ sở hữu quyền hoặc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả tiền bản quyền theo quy định.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp nên xây dựng quy trình quản lý bản quyền nội bộ, lưu giữ đầy đủ hợp đồng, chứng từ thanh toán tiền bản quyền và thường xuyên rà soát nguồn gốc các nội dung đang khai thác. Đây không chỉ là biện pháp phòng ngừa tranh chấp mà còn là căn cứ chứng minh việc sử dụng hợp pháp khi cơ quan chức năng kiểm tra hoặc phát sinh khiếu kiện.
Theo luật sư Diệp Năng Bình, để từng bước chấm dứt tình trạng "xài chùa" bản quyền đã tồn tại nhiều năm, cần có sự vào cuộc đồng bộ của Nhà nước, doanh nghiệp, các tổ chức đại diện quyền tác giả, các nền tảng số và chính người sử dụng.
Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các hành vi xâm phạm, đặc biệt là các hành vi có tổ chức hoặc nhằm mục đích thương mại. Trong khi đó, doanh nghiệp và các nền tảng số cần chủ động kiểm soát nguồn nội dung, ký kết hợp đồng cấp phép và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ bản quyền.
Và quan trọng hơn, cộng đồng cần thay đổi nhận thức, coi âm nhạc, phim ảnh, phần mềm hay sách điện tử đều là tài sản trí tuệ có giá trị kinh tế và được pháp luật bảo hộ. Việc tôn trọng bản quyền không chỉ là trách nhiệm pháp lý mà còn là nền tảng để xây dựng môi trường sáng tạo lành mạnh, khuyến khích tác giả, nghệ sĩ và doanh nghiệp tiếp tục đầu tư, sáng tạo, qua đó góp phần phát triển ngành công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo của Việt Nam.