Chưa đáp ứng pháp lý, văn bằng đại học nước ngoài không có giá trị sử dụng tại Việt Nam
Những ngày qua, dư luận đặc biệt quan tâm trước phản ánh của nhiều cựu sinh viên cho biết văn bằng cử nhân do Đại học Liverpool John Moores (Vương quốc Anh) cấp không được công nhận tại Việt Nam.
Theo tìm hiểu của phóng viên Báo Nhà báo và Công luận, các sinh viên này theo học hệ cao đẳng tại Trường Cao đẳng nghề Thiết kế và Thời trang London (LCDF, Hà Nội), sau đó được giới thiệu tham gia chương trình liên thông với cơ sở đào tạo đại học nêu trên.
Trước phản ánh của người học, đại diện Trường Cao đẳng nghề Thiết kế và Thời trang London thừa nhận còn thiếu sót trong việc cập nhật các quy định liên quan và chưa thông tin đầy đủ, kịp thời cho sinh viên.
Nhà trường cho rằng các cơ sở giáo dục nước ngoài được giới thiệu đều là những trường có uy tín, văn bằng được công nhận tại nhiều quốc gia; tuy nhiên, để được công nhận tại Việt Nam, văn bằng phải trải qua các thủ tục, quy trình theo quy định pháp luật hiện hành.
Nhà trường cho biết đã phối hợp với Đại sứ quán Vương quốc Anh trao đổi với Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các cơ quan chức năng liên quan nhằm tìm hướng giải quyết, với ưu tiên bảo đảm quyền lợi cao nhất cho người học. Đồng thời, cam kết rà soát toàn bộ quy trình pháp lý, cập nhật đầy đủ, chính xác các thông tin học thuật trong quá trình tư vấn, tuyển sinh.
Về phía cơ quan quản lý, Bộ Giáo dục và Đào tạo thông tin đang xem xét thành lập đoàn kiểm tra để làm rõ hoạt động liên kết đào tạo quốc tế của nhà trường; khẳng định sẽ xử lý nghiêm các vi phạm (nếu có) theo đúng thẩm quyền, đồng thời bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người học trên cơ sở tuân thủ đầy đủ các quy định pháp luật.
Gia tăng chương trình liên kết, yêu cầu quản lý chặt chẽ hơn
Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tính đến ngày 30/6/2025, cả nước có 423 chương trình liên kết đào tạo tại các cơ sở giáo dục đại học, triển khai trên 67 ngành đào tạo; trong đó, nhóm ngành kinh tế – quản lý chiếm 51%, khoa học – kỹ thuật – công nghệ chiếm gần 20%. Bên cạnh đó, 32 trường cao đẳng đang triển khai 77 chương trình liên kết đào tạo.
Quy mô các chương trình liên kết được đánh giá là tương đối lớn và tiếp tục mở rộng, góp phần đáp ứng nhu cầu tiếp cận chương trình đào tạo quốc tế ngay trong nước của người học.
Tuy nhiên, từ vụ việc nêu trên cho thấy, cùng với sự gia tăng về số lượng, yêu cầu đặt ra đối với công tác quản lý, giám sát chất lượng và bảo đảm tuân thủ pháp lý cũng cần được tăng cường tương xứng.
PGS, TS Lê Hiếu Học, Trưởng khoa Khoa học và Công nghệ giáo dục, Đại học Bách khoa Hà Nội nhận định, các chương trình liên kết đào tạo mang lại nhiều cơ hội cho học sinh, sinh viên được tiếp cận chương trình chuẩn quốc tế, đội ngũ giảng viên chất lượng cao và phương pháp đào tạo hiện đại trong bối cảnh toàn cầu hóa giáo dục. Tuy nhiên, yếu tố pháp lý là điều người học không thể xem nhẹ.
Theo ông Học, trước khi lựa chọn chương trình liên kết, học sinh và phụ huynh cần kiểm tra kỹ thông tin về đối tác đào tạo nước ngoài, tình trạng hoạt động của cơ sở này trên các kênh chính thức, cũng như vị trí của trường trong các bảng xếp hạng uy tín theo từng lĩnh vực.
Đặc biệt, mọi văn bằng liên kết muốn sử dụng để học tập, làm việc tại Việt Nam đều phải được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận theo quy định pháp luật hiện hành.
Để hạn chế rủi ro và bảo vệ quyền lợi người học, ông Học cho rằng, cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý về liên kết đào tạo theo hướng chặt chẽ, minh bạch, đồng thời tạo điều kiện để các cơ sở giáo dục chủ động hợp tác quốc tế gắn với trách nhiệm trong lựa chọn đối tác và triển khai chương trình.
Việc tăng cường giám sát hoạt động tuyển sinh, quảng bá chương trình liên kết, kịp thời phát hiện, cảnh báo sai phạm cũng là yêu cầu cấp thiết.
Bên cạnh đó, vai trò tư vấn, định hướng của giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục đối với học sinh, nhất là ở bậc trung học phổ thông, cần được phát huy, giúp người học và gia đình nhận diện đầy đủ cơ hội và rủi ro trước khi đưa ra quyết định lựa chọn cơ sở đào tạo.
Đây được xem là giải pháp quan trọng nhằm hạn chế hệ lụy, góp phần xây dựng môi trường giáo dục liên kết quốc tế minh bạch, bền vững, đặt quyền lợi người học ở vị trí trung tâm.