Cụ thể, Nghị định số 14/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của 26 Nghị định: 87/2009/NĐ-CP; 62/2016/NĐ-CP; 06/2021/NĐ-CP; 175/2024/NĐ-CP; 58/2017/NĐ-CP; 70/2016/NĐ-CP; 78/2016/NĐ-CP; 160/2016/NĐ-CP; 171/2016/NĐ-CP; 05/2017/NĐ-CP, 29/2017/NĐ-CP; 37/2017/NĐ-CP; 143/2017/NĐ-CP; 16/2018/NĐ-CP; 82/2019/NĐ-CP; 76/2021/NĐ-CP; 57/2024/NĐ-CP; 111/2016/NĐ-CP; 60/2023/NĐ-CP; 116/2017/NĐ-CP; 85/2020/NĐ-CP; 30/2013/NĐ-CP; 96/2021/NĐ-CP; 125/2015/NĐ-CP; 05/2021/NĐ-CP; 92/2016/NĐ-CP.
Sửa đổi quy định về đóng bến cảng, cầu cảng
Đáng chú ý, đối với Nghị định số 58/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Bộ Luật Hàng hải Việt Nam về quản lý hoạt động hàng hải, Nghị định số 14/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung về thủ tục công bố mở cảng biển, cảng dầu khí ngoài khơi và công bố đưa luồng hàng hải vào sử dụng; sửa đổi quy định về đóng bến cảng, cầu cảng, bến phao và khu nước, vùng nước...
Nghị định quy định bến cảng, cầu cảng, bến phao và khu nước, vùng nước trong vùng nước cảng biển được đóng khi đáp ứng một trong các điều kiện sau đây:
a. Bến cảng, cầu cảng, bến phao, khu nước, vùng nước không còn tồn tại hoặc không đủ điều kiện hoạt động;
b. Bến cảng, cầu cảng, bến phao và khu nước, vùng nước hoạt động không hiệu quả;
c. Vì lý do bảo đảm quốc phòng, an ninh hoặc các lý do đặc biệt khác.
Chủ sở hữu thực hiện việc đóng bến cảng, cầu cảng, bến phao, khu nước, vùng nước thuộc sở hữu của mình.
Trước khi dừng khai thác bến cảng, cầu cảng, bến phao, khu nước, vùng nước, chủ sở hữu có trách nhiệm thông báo bằng văn bản tới Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam, Cảng vụ hàng hải hoặc Cảng vụ đường thủy nội địa (trực thuộc Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam) quản lý tại khu vực để phục vụ công tác quản lý.
Sau khi đóng bến cảng, cầu cảng, bến phao, khu nước, vùng nước, chủ đầu tư có trách nhiệm: Thông báo bằng văn bản tới Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam, Cảng vụ hàng hải hoặc Cảng vụ đường thủy nội địa (trực thuộc Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam) quản lý tại khu vực về việc đóng bến cảng, cầu cảng, bến phao, khu nước, vùng nước (trong đó nêu rõ thời điểm đóng) và thực hiện việc tháo dỡ, thu hồi hoặc xử lý công trình và thiết bị gắn với công trình theo quy định.
Bỏ một số điều kiện đối với doanh nghiệp kinh doanh vận tải biển quốc tế
Nghị định số 160/2016/NĐ-CP về điều kiện kinh doanh vận tải biển, kinh doanh dịch vụ đại lý tàu biển và dịch vụ lai dắt tàu biển quy định doanh nghiệp kinh doanh vận tải biển quốc tế phải đáp ứng các điều kiện sau:
Doanh nghiệp kinh doanh vận tải biển được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh vận tải biển được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật về hợp tác xã (sau đây viết tắt là doanh nghiệp).
Được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh vận tải biển khi đáp ứng điều kiện quy định.
Ngoài điều kiện trên, doanh nghiệp kinh doanh vận tải biển quốc tế còn phải đáp ứng các điều kiện về: Tài chính (có bảo lãnh mức tối thiểu là 5 tỷ đồng Việt Nam); tàu thuyền; tổ chức bộ máy, nhân sự.
Nay, Nghị định số 14/2026/NĐ-CP quy định cắt bỏ điều kiện kinh doanh về tàu thuyền, về tổ chức bộ máy, về nhân lực.
Theo đó, doanh nghiệp kinh doanh vận tải biển quốc tế phải đáp ứng các điều kiện sau: Doanh nghiệp kinh doanh vận tải biển được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh vận tải biển được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật về hợp tác xã (sau đây viết tắt là doanh nghiệp); được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh vận tải biển khi đáp ứng điều kiện quy định.
Đồng thời, doanh nghiệp kinh doanh vận tải biển quốc tế còn phải có bảo lãnh theo quy định của pháp luật với mức tối thiểu là 5 tỷ đồng Việt Nam hoặc mua bảo hiểm để bảo đảm nghĩa vụ của chủ tàu đối với thuyền viên theo quy định.