Trong đó, xuất khẩu ước khoảng 36,3 tỷ USD, tăng 13,1% so với cùng kỳ năm trước, nhập khẩu ước khoảng 29,9 tỷ USD, tăng 3,9%, xuất siêu trên 6,3 tỷ USD, tăng 94,6% so với cùng kỳ năm trước.
Hạt điều là một trong 7 sản phẩm, nhóm sản phẩm có giá trị xuất khẩu trên 2 tỷ USD. Ảnh minh họa
Trao đổi với phóng viên, ông Nguyễn Văn Việt, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch, Bộ NN&PTNT cho biết, 8 tháng năm 2022, xuất khẩu các mặt hàng nông, lâm, thủy sản đạt 36,3 tỷ, thặng dư đạt 6,3 tỷ USD, tăng gần gấp đôi so với cùng kỳ năm trước.
Đáng chú ý, có 7 sản phẩm, nhóm sản phẩm có giá trị xuất khẩu trên 2 tỷ USD, gồm: Cà phê, cao su, gạo, rau quả, điều, tôm, sản phẩm gỗ.
Riêng tháng 8, kim ngạch xuất khẩu ước gần 4,4 tỷ USD, tăng 32,0% so với tháng 8/2021, tăng 0,3% so với tháng 7/2022. Trong đó, nhóm nông sản chính trên 1,8 tỷ USD, lâm sản chính trên 1,4 tỷ USD, thủy sản 893,8 triệu USD và chăn nuôi 41,6 triệu USD.
Về thị trường xuất khẩu, trong 8 tháng qua, Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất, đạt gần 9,6 tỷ USD (chiếm 26,4% thị phần). Đứng thứ 2 là thị trường Trung Quốc khoảng 6,5 tỷ USD (chiếm 17,8% thị phần), thứ 3 là thị trường Nhật Bản với giá trị xuất khẩu đạt trên 2,7 tỷ USD (chiếm 7,4%) và thứ 4 là thị trường Hàn Quốc với giá trị xuất khẩu đạt trên 1,7 tỷ USD (chiếm 4,7%).
Bộ NN&PTNT cho biết, theo kế hoạch năm 2022, hoàn thành đàm phán mở cửa thị trường đối với các sản phẩm gồm: nhãn xuất khẩu đi Nhật Bản. Tiếp tục đàm phán các sản phẩm chanh leo, dừa xuất khẩu đi Hoa Kỳ, bưởi xuất khẩu sang Hàn Quốc, chanh leo xuất khẩu sang Úc, cây có múi xuất khẩu đi New Zealand.
Triển khai Nghị định thư về sầu riêng và hướng dẫn tạm thời đối với chanh leo xuất khẩu sang Trung Quốc; chuẩn hóa lại các quy định liên quan đến các loại quả tươi truyền thống xuất khẩu sang Trung Quốc.
Đồng thời rà soát, điều chỉnh các chính sách khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp; khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất với tiêu thụ nông sản và các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật theo hướng phù hợp với chuẩn mực quốc tế và thực tiễn sản xuất;
Tích cực triển khai chủ động có hiệu quả các Hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương. Hướng dẫn người dân, doanh nghiệp thực hiện nghiêm việc đáp ứng các quy định về tem nhãn, truy xuất nguồn gốc, chỉ dẫn vùng trồng, kiểm nghiệm, kiểm dịch, quy cách đóng gói, chất lượng, chủng loại nông sản, đăng ký mã cơ sở đóng gói, mã số doanh nghiệp.
Chủ động chuẩn bị tốt các hồ sơ kỹ thuật, tích cực đàm phán để mở cửa thị trường cho nông sản xuất khẩu chính ngạch vào thị trường lớn và tiềm năng.
Giải quyết các vấn đề rào cản kỹ thuật phát sinh tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu. Đa dạng hóa các biện pháp xử lý đối với một sản phẩm để đảm bảo kéo dài thời gian bảo quản, diệt trừ triệt để đối tượng kiểm dịch thực vật, tăng khả năng cạnh tranh cao cho nông sản Việt Nam.