Bộ Tài chính vừa có công văn gửi Bộ Tư pháp về báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định về Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định quy định chi tiết Luật đầu tư theo phương thức đối tác công tư.
Cho phép ký hợp đồng trên cơ sở tổng mức đầu tư
Trước đó, khi thẩm định hồ sơ Dự thảo Nghị định, Bộ Tư pháp đề nghị cân nhắc việc bổ sung quy định tại điểm b khoản 3 Điều 1 Dự thảo Nghị định liên quan đến việc cho phép cơ quan có thẩm quyền và nhà đầu tư được phép ký kết hợp đồng trên cơ sở tổng mức đầu tư tại quyết định phê duyệt.
Quy định này áp dụng đối với dự án BT độc lập có quy mô tổng mức đầu tư từ 20.000 tỷ đồng trở lên có các hạng mục phức tạp, yêu cầu cao về thiết kế, mỹ thuật, công nghệ mới hoặc điều kiện thi công khó khăn mà cấp có thẩm quyền phê duyệt từng công trình hạng mục công trình BT.
Về vấn đề này, Bộ Tài chính giải trình cho rằng Nghị định số 257/2025/NĐ-CP quy định hợp đồng BT được ký kết sau khi hoàn thành việc phê duyệt thiết kế, dự toán công trình BT.
Trong khi đó, theo quy định của pháp luật về xây dựng, đối với dự án đầu tư xây dựng có các hạng mục phức tạp, yêu cầu cao về thiết kế, mỹ thuật, công nghệ mới hoặc điều kiện thi công khó khăn, việc xác định định mức, đơn giá hoặc suất vốn đầu tư đặc biệt phải thực hiện theo trình tự, thủ tục riêng.
Đối với các dự án BT có quy mô tổng mức đầu tư lớn hoặc thuộc trường hợp phải áp dụng định mức, đơn giá hoặc suất vốn đầu tư đặc biệt, việc hoàn thành phê duyệt toàn bộ thiết kế, dự toán thường kéo dài, dẫn đến chậm ký kết hợp đồng BT và ảnh hưởng đến tiến độ triển khai dự án.
Trong khi đó, căn cứ quy định tại khoản 2b Điều 45 Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư và khoản 2 Điều 29 Luật Xây dựng, việc cơ quan có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán theo từng công trình, hạng mục công trình đối với dự án BT có quy mô lớn là phù hợp về thẩm quyền và tạo điều kiện thuận lợi để có cơ sở xem xét cơ chế ký kết hợp đồng trước khi hoàn thành việc phê duyệt toàn bộ thiết kế, dự toán.
Tiếp thu ý kiến của Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính đã chỉnh lý điểm b khoản 3 Điều 1 dự thảo Nghị định (Điều 3 dự thảo mới) theo hướng quy định trường hợp dự án được ký kết hợp đồng BT trên cơ sở tổng mức đầu tư tại quyết định phê duyệt dự án đối với dự án BT có quy mô tổng mức đầu tư từ 20.000 tỷ đồng trở lên mà thiết kế xây dựng, dự toán xây dựng được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo từng công trình, hạng mục công trình.
Hoặc dự án BT có các hạng mục phức tạp, yêu cầu cao về thiết kế, mỹ thuật, công nghệ mới hoặc điều kiện thi công khó khăn phải áp dụng định mức, đơn giá hoặc suất vốn đầu tư đặc biệt theo quy định của pháp luật về xây dựng.
Quy định này bảo đảm thống nhất với pháp luật về xây dựng, kế thừa cơ chế đã được Chính phủ cho phép áp dụng tại Nghị quyết số 66.20/2026/NQ-CP đối với dự án BT phục vụ Hội nghị Cấp cao APEC 2027.
Việc bổ sung quy định trên góp phần tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn, tạo cơ sở đẩy nhanh việc ký kết hợp đồng và triển khai các dự án BT có quy mô lớn hoặc có yêu cầu kỹ thuật đặc thù, đồng thời vẫn đảm bảo cơ sở pháp lý.
Bổ sung nguyên tắc tính lãi vay
Dự thảo Nghị định bổ sung quy định rõ ràng về nguyên tắc tính lãi vay đối với phần vốn vay huy động trong phương án tài chính của hợp đồng dự án BT cho khoảng thời gian Nhà nước chậm bàn giao quỹ đất thanh toán cho nhà đầu tư so với tiến độ cam kết.
Tuy nhiên, Bộ Tư pháp có ý kiến cho rằng thời gian tính lãi vay trong trường hợp Nhà nước chậm thanh toán quỹ đất cho nhà đầu tư BT tính từ thời điểm hoàn thành nghiệm thu khối lượng công trình theo tỷ lệ % tại khoản 9 Điều 1 Dự thảo Nghị định là chưa phù hợp với quy định hiện hành.
Về vấn đề này, Bộ Tài chính giải thích theo quy định tại khoản 3 Điều 16 Nghị định 257/2025/NĐ-CP, việc thanh toán hợp đồng BT bằng quỹ đất được thực hiện theo 2 phương thức.
Thứ nhất là theo tỷ lệ phần trăm khối lượng công trình được nghiệm thu hoàn thành. Thứ hai là theo hạng mục công trình, công trình BT được nghiệm thu hoàn thành.
Do đó, quy định về khoản tiền nhà đầu tư được hưởng trong trường hợp Nhà nước chậm giao đất, cho thuê đất để thanh toán cần được áp dụng thống nhất tương ứng với từng phương thức thanh toán nói trên.
Việc bổ sung quy định về việc Nhà nước chậm thanh toán đối với trường hợp nghiệm thu hoàn thành khối lượng công trình theo tỷ lệ % là nhằm đảm bảo đồng bộ pháp luật, tránh phát sinh khoảng trống pháp lý, đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư.
Từ căn cứ trên, Bộ Tài chính đề nghị giữ nguyên quy định như Dự thảo Nghị định.