Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

(NB&CL) Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đặt ra yêu cầu chuyển mạnh tư duy từ khai thác biển sang quản trị biển hiện đại, từ phát triển kinh tế biển theo từng ngành, từng lĩnh vực sang quản trị thống nhất, tổng hợp không gian biển quốc gia. 

Cách tiếp cận này đang mở ra một không gian phát triển rộng lớn hơn, đó là không gian của biển xa, biển sâu và những không gian biển mới; của năng lượng ngoài khơi, logistics, cảng biển, công nghiệp đóng tàu, nuôi biển công nghệ cao, công nghệ sinh học biển... Đồng thời, hình thành hệ thống quản trị biển quốc gia hiện đại, thống nhất, đồng bộ, dựa trên khoa học, công nghệ, dữ liệu số.....

Bước chuyển tư duy và tạo đột phá về khoa học - công nghệ

Sau 8 năm triển khai Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, kinh tế biển đã có những đóng góp nhất định cho phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời góp phần bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên biển. Tuy nhiên, kết quả đạt được vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế. Những hạn chế trong cách thức tổ chức thực hiện, sự phức tạp của tình hình Biển Đông, tác động của biến đổi khí hậu, thiên tai và dịch bệnh đã đặt ra yêu cầu phải có cách tiếp cận mới.

Với vùng biển rộng, đường bờ biển dài hơn 3.260 km và vị trí nằm trên những tuyến hàng hải quốc tế quan trọng, Việt Nam hội tụ nhiều điều kiện để phát triển một nền kinh tế quy mô lớn. Mới đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu phải đổi mới tư duy, chuyển mạnh từ tư duy kinh tế biển sang tư duy không gian phát triển biển quốc gia. Theo các chuyên gia, đây là định hướng quan trọng nhằm phát huy hiệu quả hơn tiềm năng, lợi thế của biển, đồng thời gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, an ninh và bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo trong giai đoạn mới.

vna-potal-quy-nhon-mo-khong-gian-phat-trien-moi-8843658.jpg

Tiến sỹ Phạm Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) cho rằng yêu cầu chuyển từ tư duy “kinh tế biển” sang tư duy “không gian phát triển biển quốc gia” là một thay đổi quan trọng về tầm nhìn chiến lược. Nếu trước đây biển thường được nhìn nhận chủ yếu qua các ngành như thủy sản, dầu khí, cảng biển, du lịch hay vận tải biển thì cách tiếp cận mới đặt biển trong một chỉnh thể rộng hơn, gắn với tăng trưởng kinh tế, quốc phòng, an ninh, khoa học công nghệ, môi trường, đối ngoại và sinh kế của cộng đồng ven biển.

Theo Tiến sỹ Phạm Anh Tuấn, ý nghĩa lớn nhất của sự thay đổi này là giúp Việt Nam vượt qua cách phát triển còn phân tán theo ngành, theo địa phương và theo từng dự án riêng lẻ. Thực tiễn thời gian qua cho thấy kinh tế biển đã đạt nhiều kết quả tích cực nhưng vẫn tồn tại tình trạng chồng lấn quy hoạch, liên kết vùng chưa chặt chẽ, hạ tầng chưa đồng bộ và áp lực ngày càng lớn đối với môi trường biển.

Vì vậy, tư duy mới sẽ giúp tổ chức lại không gian biển, ven biển và hải đảo theo hướng hiệu quả và bền vững hơn. Ở góc độ phát triển đất nước, cách tiếp cận này mở ra không gian tăng trưởng mới cho Việt Nam trong giai đoạn tới. Biển không chỉ là nơi khai thác tài nguyên mà còn có thể trở thành động lực phát triển của nhiều ngành, lĩnh vực mới dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và xu hướng tăng trưởng xanh. Để hiện thực hóa tư duy đó, theo Tiến sỹ Phạm Anh Tuấn, trước hết cần triển khai thực chất Quy hoạch không gian biển quốc gia, bảo đảm phân định rõ các khu vực phát triển kinh tế, bảo tồn sinh thái, quốc phòng, an ninh và sinh kế cộng đồng. Cùng với đó là đổi mới thể chế quản trị biển theo hướng thống nhất, liên ngành và liên vùng, khắc phục tình trạng phát triển riêng lẻ giữa các địa phương và các ngành.

Tiếp cận vấn đề từ góc nhìn động lực kinh tế và hạ tầng, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Đào Đình Châm, Ủy viên Hội đồng Trung ương Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Khoa học kỹ thuật Biển Việt Nam cho rằng, việc xây dựng một đầu mối quản lý không gian biển thống nhất là nền tảng quan trọng để thu hút nguồn lực đầu tư dài hạn và tạo động lực cho phát triển kinh tế biển xanh.

Ông cho rằng một nền kinh tế biển mạnh với hệ thống hạ tầng hiện đại, các ngành kinh tế biển có giá trị gia tăng cao và sự hiện diện hiệu quả của các hoạt động kinh tế hợp pháp trên biển không chỉ tạo động lực tăng trưởng mới cho đất nước mà còn góp phần tăng cường tiềm lực quốc gia, gắn kết chặt chẽ giữa phát triển với bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển trong giai đoạn mới. Phát triển biển trong giai đoạn tới cũng cần gắn với yêu cầu bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Việc phát triển các nguồn năng lượng sạch, bảo tồn hệ sinh thái biển, xây dựng các đô thị ven biển có khả năng chống chịu tốt hơn trước thiên tai sẽ là những yếu tố quan trọng bảo đảm cho phát triển bền vững.

Hướng tới năm 2045, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Đào Đình Châm kỳ vọng kinh tế biển sẽ trở thành một trong những động lực tăng trưởng chiến lược của đất nước. Khi đó, biển không chỉ là nơi tạo ra các giá trị kinh tế mà còn là không gian kết nối quốc tế, góp phần nâng cao vị thế và sức cạnh tranh của Việt Nam trong khu vực.

Tháo gỡ “điểm nghẽn” thể chế

Để kết nối những “mắt xích” thành một hệ sinh thái kinh tế biển, trước hết phải tháo gỡ những “điểm nghẽn” về thể chế. Tiềm năng biển rất lớn, song nếu thể chế chưa theo kịp, nguồn lực vẫn có thể bị lãng phí. Đây là một trong những vấn đề căn cốt mà Nghị quyết 20 nhận diện và đặt ra yêu cầu giải quyết.

Nghị quyết xác định, đổi mới quản trị không gian biển quốc gia là nội dung cốt lõi, mang tính đột phá trong hoàn thiện thể chế phát triển quốc gia biển mạnh. Hệ thống pháp luật về biển, hải đảo và các lĩnh vực liên quan phải được rà soát, hoàn thiện theo hướng thống nhất, đồng bộ, minh bạch, ổn định, khả thi và có sức cạnh tranh quốc tế; đồng thời phải tháo gỡ các “điểm nghẽn”, chồng chéo, mâu thuẫn; giải phóng và huy động hiệu quả các nguồn lực.

quan-diem-nhat-quan-cua-dang-ve-bao-ve-chu-quyen-va-phat-huy-gia-tri-bien-dao.jpg

Đặc biệt, Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật về biển, gắn trách nhiệm của cơ quan thực thi với kết quả thực hiện. Đây là vấn đề có ý nghĩa rất lớn, bởi một chủ trương, chính sách dù tiến bộ đến đâu cũng khó tạo ra chuyển biến nếu khâu thực thi thiếu quyết liệt, trách nhiệm không rõ ràng, phối hợp không hiệu quả. Thực tế, những hạn chế trong mô hình quản lý hiện nay không chỉ nằm ở cơ chế, chính sách mà còn ở khâu tổ chức thực hiện. Nghị quyết 20 đã chỉ ra khá rõ nguyên nhân, trong đó chủ yếu là công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quán triệt và tổ chức thực hiện các chủ trương của Đảng có lúc, có nơi chưa thật sự quyết liệt, quyết tâm chính trị chưa cao...

Vì vậy, chuyển từ quản lý theo ngành sang quản trị tổng hợp không đơn thuần là thay đổi cơ chế phối hợp, mà là đổi mới phương thức quản trị một không gian phát triển đặc biệt. Nghị quyết yêu cầu khẩn trương kiện toàn, đổi mới toàn diện cơ chế điều phối liên ngành về biển và đại dương thống nhất, tập trung, đồng bộ, hiệu quả giữa các ngành, lĩnh vực, địa phương. Chính phủ thống nhất quản lý, giao một cơ quan chủ trì điều phối các hoạt động trên biển, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức liên quan.

Đây chính là “chìa khóa” để những nguồn lực đang phân tán có thể được kết nối; những dự án, chương trình đang có nguy cơ chồng lấn về lợi ích có thể được điều hòa; những tiềm năng chưa được khai mở có thể trở thành động lực phát triển.

Khi biển được đặt đúng vị trí trong chiến lược phát triển quốc gia; không gian biển được quản trị bằng thể chế hiện đại, dữ liệu, khoa học và công nghệ; khi người dân và doanh nghiệp thực sự trở thành những chủ thể của quá trình phát triển, khát vọng trở thành quốc gia biển mạnh sẽ có nền tảng vững chắc để trở thành hiện thực.

Quy hoạch, thể chế mở đường

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh tại hội nghị vào sáng 29/7: “Chúng ta phải tích cực chuẩn bị các điều kiện để đến năm 2045, Việt Nam trở thành quốc gia giàu từ biển, phát triển bền vững từ biển, có nền quản trị biển hiện đại, có công nghệ biển tiên tiến”.

Theo các chuyên gia, một trong những điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa những định hướng trên là sớm rà soát, điều chỉnh quy hoạch không gian biển quốc gia và phân vùng chức năng biển. Việc xác định rõ khu vực dành cho giao thông hàng hải, cảng biển, năng lượng ngoài khơi, dầu khí, thủy sản, nuôi biển, du lịch, dịch vụ hay bảo tồn... sẽ giúp hạn chế xung đột giữa các ngành, lĩnh vực và người sử dụng không gian biển.

Ông Phùng Đức Tiến, Chủ tịch Hội Thủy sản Việt Nam cho rằng, Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030, tổng GRDP của các tỉnh, thành phố ven biển đóng góp trên 70% GDP cả nước, tốc độ tăng trưởng GRDP khu vực ven biển trên 11%/năm là một bước chuyển rất lớn. Để đạt được mục tiêu này, cơ cấu kinh tế phải gắn với cơ cấu lao động, đồng thời quy hoạch không gian biển phải đủ rõ để xác định các khu vực phát triển điện gió, thăm dò dầu khí, du lịch, cảng biển, đóng tàu và các hoạt động kinh tế khác.

Theo ông Phùng Đức Tiến, cùng với quy hoạch cần rà soát lại hệ thống hạ tầng phục vụ phát triển năng lượng ngoài khơi, dầu khí, du lịch, đóng tàu, nuôi biển và khai thác thủy sản. Khi không gian phát triển được xác định rõ, doanh nghiệp mới có cơ sở tính toán đầu tư dài hạn, còn cơ quan quản lý có thể chủ động kiểm soát các hoạt động chồng lấn, hạn chế tranh chấp và sử dụng kém hiệu quả nguồn lực biển.

Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế biển không thể tách rời yêu cầu phục hồi và bảo vệ hệ sinh thái. Ông Phùng Đức Tiến cho rằng, đối với thủy sản, cần giảm cường lực khai thác, giảm đội tàu, chuyển đổi nghề để vừa bảo vệ nguồn lợi vừa bảo đảm sinh kế cho ngư dân. Cùng với đó là đầu tư cho các khu bảo tồn biển, phát triển mô hình đồng quản lý, kiểm soát ô nhiễm, nước thải và rác thải nhựa, nhất là tại các khu vực ven biển và đô thị hóa nhanh.

Đây cũng là yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện thể chế. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng cho biết, triển khai Nghị quyết số 20-NQ/ TW và Chương trình hành động của Chính phủ, Bộ tập trung hoàn thiện dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi); trong đó làm rõ việc giao, cho thuê, sử dụng và khai thác không gian biển; nghĩa vụ tài chính; bảo vệ tài nguyên, môi trường; phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm và giải quyết xung đột trong sử dụng không gian biển.

Bộ cũng rà soát, cập nhật, điều chỉnh Quy hoạch không gian biển quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; Quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 và Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Các quy hoạch phải có sự liên kết, thống nhất theo hướng rõ không gian cho hàng hải, cảng biển, năng lượng ngoài khơi, khai thác và nuôi trồng thủy sản, du lịch, dịch vụ, bảo tồn; đồng thời kết nối không gian đất liền, vùng biển, hải đảo, vùng ven biển và không gian phát triển mới, bảo đảm đồng bộ với các quy hoạch ngành và yêu cầu phát triển kinh tế biển bền vững.

Từ Nghị quyết số 36-NQ/TW đến Nghị quyết số 20-NQ/TW, tư duy phát triển biển đang chuyển từ khai thác tiềm năng sang quản trị, kiến tạo không gian phát triển; từ dựa vào tài nguyên sang dựa vào tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đây là nền tảng để Việt Nam không chỉ phát huy lợi thế từ biển, mà từng bước làm chủ không gian biển, nâng cao vị thế quốc gia biển mạnh trong giai đoạn mới.

Xem thêm

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia hiện đại không thể được tạo nên chỉ bằng một bộ máy tinh gọn hơn hay những nền tảng công nghệ mới. Nó đòi hỏi một nền tảng thể chế đủ khả năng mở đường cho phát triển, một bộ máy đủ năng lực biến chính sách thành kết quả và một hạ tầng dữ liệu đủ sức thay đổi phương thức ra quyết định. 

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

(NB&CL) Tám mươi mốt năm sau mùa Thu 1945, lịch sử đã đi qua biết bao biến động, nhưng có những giá trị càng qua thời gian càng trở nên bền vững. Đó là khát vọng độc lập, ý chí tự quyết vận mệnh dân tộc, tinh thần tự lực tự cường và niềm tin rằng một đất nước, dù từng ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, vẫn có thể tự mình đứng dậy, lựa chọn con đường đi tới và làm nên tương lai.

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Ngày 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó không chỉ là một văn kiện khai sinh một quốc gia độc lập sau nhiều thập niên mất nước, mà còn mở ra một nền tảng chính trị - pháp lý mới cho Nhà nước Việt Nam hiện đại, nơi quyền lực không còn thuộc về một thiểu số cai trị, mà thuộc về Nhân dân; Nhà nước được lập nên để gánh vác việc chung, bảo đảm quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc của con người.

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

(NB&CL) Kỷ cương của một xã hội không thể chỉ được giữ bằng quy định và giám sát. Khi con người biết tự điều chỉnh hành vi, tôn trọng pháp luật và nghĩ đến trách nhiệm với cộng đồng, kỷ cương mới trở thành một phần của đời sống. Từ yêu cầu xây dựng “trật tự tự thân” trong Nghị quyết số 18-NQ/TW, có thể nhìn thấy một mục tiêu sâu xa hơn: Xây dựng một xã hội mà những điều đúng không cần lúc nào cũng phải có người nhắc mới được thực hiện.

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

(NB&CL) Sau 40 năm mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu cũng thay đổi. Điều chúng ta hướng tới không còn là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút những dòng vốn có khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và góp phần xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng. 

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

(NB&CL) Một quốc gia mạnh không chỉ bởi những nguồn lực trong lãnh thổ, mà còn bởi khả năng kết nối và phát huy những tiềm lực đang hiện diện bên ngoài. Trong thế giới mà tri thức, công nghệ, vốn và nhân lực chất lượng cao vận động xuyên biên giới, đường biên địa lý không thể đồng nghĩa với giới hạn của sức mạnh quốc gia.

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

(NB&CL) Chặng đường nửa cuối năm được dự báo vẫn đầy thách thức. Do vậy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm, nền kinh tế phải tháo gỡ được hàng loạt nút thắt nội tại: từ kiểm soát lạm phát, khơi thông điểm nghẽn giải ngân đầu tư công, đến việc duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý và phục hồi kênh dẫn vốn trung - dài hạn...

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

(NB&CL) Việt Nam có biển từ hàng nghìn năm trước. Nhưng có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử hiện đại, biển lại được đặt vào vị trí trung tâm của tư duy phát triển như lúc này. Điều thay đổi không nằm ở chiều dài hơn ba nghìn cây số bờ biển hay diện tích vùng đặc quyền kinh tế, mà ở cách chúng ta nhìn về biển. Đó cũng là điểm nhấn lớn nhất của Nghị quyết số 20-NQ/TW: Lần đầu tiên biển không còn được đặt trong tư duy phát triển biển, mà được đặt trong tư duy phát triển quốc gia.

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

(NB&CL) Phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn là một trong những định hướng lớn được Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết XIV của Đảng) xác định nhằm tạo động lực cho mô hình tăng trưởng mới. Trong bối cảnh Việt Nam (VN) đang xây dựng và từng bước vận hành thị trường carbon, yêu cầu đặt ra không chỉ là giảm phát thải mà còn phải chuyển đổi căn bản tư duy phát triển, coi môi trường là một nguồn lực kinh tế. 

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

(NB&CL) Việt Nam không thiếu chủ trương đúng, cũng không thiếu quyết tâm chính trị. Điều quyết định thành công của một giai đoạn phát triển mới nằm ở khả năng biến những chủ trương ấy thành hành động hiệu quả, để mỗi quyết sách không chỉ dừng lại trên văn bản mà tạo ra những thay đổi có thể cảm nhận trong đời sống. Từ góc nhìn đó, Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV không chỉ bàn về những nhiệm vụ trước mắt, mà còn cho thấy một bước chuyển đáng chú ý trong tư duy quản trị: đưa năng lực thực thi trở thành nền tảng để hiện thực hóa khát vọng phát triển mà Đại hội XIV đã xác lập.

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

(NB&CL) Có những cuộc hành trình được đo bằng số ki-lô-mét đã đi, có những công trình được ghi dấu bằng những con số đầu tư hay tốc độ tăng trưởng. Nhưng cũng có những hành trình không thể đo bằng những thước đo thông thường, bởi đích đến của nó không chỉ là một địa điểm, mà là sự trở về của ký ức, của lòng biết ơn và của lương tri. “Chiến dịch 500 ngày đêm” tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ là một hành trình như thế.

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

(NB&CL) Trong hàng nghìn năm giữ nước của dân tộc Việt Nam, văn hóa luôn là cội rễ và là “vũ khí mềm” đặc biệt để bảo vệ sự tồn tại của dân tộc trước các thế lực xâm lăng. Khi chiến tranh không còn là tiếng súng, mà là cuộc chiến về thông tin, giá trị và biểu tượng, thì văn hóa trở thành tuyến phòng thủ chiến lược. Không gian mạng – một thực thể phi vật lý nhưng có sức ảnh hưởng sâu rộng – đang trở thành mặt trận mới của cuộc đấu tranh giữ nước bằng văn hóa. Trong môi trường đó, việc bảo vệ chủ quyền văn hóa trở nên cấp thiết không kém gì bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Chủ quyền văn hóa trên không gian mạng chính là quyền làm chủ thông tin, giá trị, bản sắc và tâm hồn dân tộc trước làn sóng toàn cầu hóa mạnh mẽ.

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

(NB&CL) Mỗi giai đoạn phát triển của đất nước đều được đánh dấu bằng những quyết sách mang tính mở đường. Có những quyết sách làm thay đổi cách tổ chức nền kinh tế, có những quyết sách tạo nên bước ngoặt về thể chế và phương thức quản trị. Nhưng cũng có những quyết sách không khởi đầu bằng những công trình quy mô lớn hay mục tiêu tăng trưởng cao, mà bắt đầu từ một câu hỏi rất giản dị: sau tất cả những đổi thay, người dân sẽ sống tốt hơn như thế nào?

Nhà nước pháp quyền không có chỗ cho 'quyền lực ảo' phán xét

Nhà nước pháp quyền không có chỗ cho 'quyền lực ảo' phán xét

(CLO) Một đoạn video chưa đầy một phút. Một dòng trạng thái được chia sẻ hàng nghìn lần. Chỉ sau vài giờ, một con người có thể bị quy kết, bị tẩy chay và bị kết án bởi hàng vạn bình luận, ngay cả khi cơ quan có thẩm quyền còn chưa bắt đầu xác minh sự việc.

Một kỳ thi và bài học về sự trung thực

Một kỳ thi và bài học về sự trung thực

(CLO) Mỗi mùa thi tốt nghiệp trung học phổ thông đều mang theo biết bao kỳ vọng của học sinh, gia đình và toàn xã hội. Sau mười hai năm đèn sách, kỳ thi không chỉ khép lại một chặng đường học tập mà còn mở ra cánh cửa của tương lai. Đó có thể là giảng đường đại học, trường nghề hay hành trình lập nghiệp của mỗi người.

Nền tảng cho khát vọng phát triển đất nước

Nền tảng cho khát vọng phát triển đất nước

(NB&CL) Ngày 2/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg về Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đảng về phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ mới; đồng thời tạo nền tảng tinh thần vững chắc, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Khi tăng trưởng được đo bằng năng lực thực thi

Khi tăng trưởng được đo bằng năng lực thực thi

(NB&CL) Suốt nhiều năm, “thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn” gần như đã trở thành một nhận định quen thuộc mỗi khi bàn về những lực cản đối với phát triển. Thế nhưng, tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6 và Hội nghị trực tuyến với các địa phương đầu tháng 7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đưa ra một nhận định khác, ngắn gọn nhưng giàu sức gợi: “Hiện nay, vấn đề cốt tử, cốt lõi là triển khai thực thi. Giai đoạn này, thể chế không còn là điểm nghẽn của điểm nghẽn nữa. Thực thi nhiệm vụ, tổ chức triển khai đang là điểm nghẽn của điểm nghẽn”.

Cỡ chữ bài viết: