Trong khi một số trường đánh giá đây là hướng đi tất yếu, khả thi nếu có lộ trình phù hợp, thì không ít chuyên gia cảnh báo nguy cơ áp dụng cào bằng, gây áp lực lớn và thiếu thực tiễn.
Theo dự thảo do UBND TP Hà Nội lấy ý kiến, toàn bộ giáo viên bao gồm cả hiệu trưởng và hiệu phó, đều phải đạt chuẩn ngoại ngữ tối thiểu nhằm nâng cao chất lượng đầu ra học sinh trong bối cảnh hội nhập.
Có thể làm được, nhưng cần thời gian
Tại Trường Tiểu học Nguyễn Siêu (Hà Nội), ngay khi dự thảo được công bố, nhà trường đã rà soát năng lực đội ngũ giáo viên. Đại diện nhà trường cho biết, với giáo viên trẻ, yêu cầu này không quá khó khi nhiều người đã đạt IELTS 6.0–8.0.
“Tương đương IELTS 4.0–5.0 là hoàn toàn khả thi với đội ngũ giáo viên trẻ”, đại diện nhà trường khẳng định.
Tuy nhiên, thách thức lại nằm ở nhóm giáo viên lớn tuổi – những người trước đây chưa được đào tạo hoặc yêu cầu về ngoại ngữ chưa cao. Để giải bài toán này, nhà trường dự kiến tổ chức các lớp ôn luyện, phân nhóm theo trình độ và tận dụng chính đội ngũ giáo viên tiếng Anh để hỗ trợ đồng nghiệp.
Không chỉ dừng ở chứng chỉ, trường cũng đã xây dựng “môi trường tiếng Anh” trong các hoạt động thường ngày, từ sinh hoạt lớp đến trải nghiệm, nhằm giúp giáo viên và học sinh sử dụng ngoại ngữ một cách tự nhiên hơn.
Dù vậy, nhà trường thừa nhận việc nâng chuẩn toàn bộ giáo viên chắc chắn sẽ tạo áp lực nhất định, đặc biệt với những người lớn tuổi.
Tránh áp dụng cào bằng, cần lộ trình linh hoạt
Ở góc độ chuyên gia, TS Hoàng Ngọc Vinh, nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp (Bộ GD&ĐT) cho rằng, chủ trương nâng chuẩn ngoại ngữ là cần thiết, nhưng cần triển khai thận trọng.
Theo ông, không thể áp dụng cùng một chuẩn ngoại ngữ cho tất cả giáo viên ở mọi cấp học, môn học.
“Giáo viên tiểu học chủ yếu cần phát âm chuẩn, nghe tốt để dạy học sinh ở giai đoạn đầu, không cần năng lực học thuật cao như bậc trên. Nếu áp dụng đồng loạt một chuẩn sẽ có phần khiên cưỡng”, ông phân tích.
Ông cũng chỉ ra nguy cơ “cào bằng” khi những môn học ít sử dụng tiếng Anh như Ngữ văn, Lịch sử, Thể chất… vẫn phải đáp ứng cùng một tiêu chí. Ngược lại, với những môn cần giảng dạy bằng tiếng Anh, mức 4.0–5.0 lại là chưa đủ.
“Nếu không phân loại, nhiều giáo viên sẽ học để lấy chứng chỉ cho đủ điều kiện, tốn thời gian, chi phí nhưng hiệu quả thực chất không cao”, ông Vinh nói.
Bên cạnh đó, việc yêu cầu đồng loạt có thể tạo áp lực lớn với giáo viên lớn tuổi – nhóm có khả năng tiếp thu ngoại ngữ hạn chế hơn.
Theo TS Hoàng Ngọc Vinh, nếu triển khai, chính sách cần có lộ trình rõ ràng, thậm chí xem xét miễn hoặc giảm chuẩn với một số nhóm giáo viên, đặc biệt là người trên 50 tuổi.
Đồng thời, để tránh biến việc học ngoại ngữ thành gánh nặng, cần có các chính sách hỗ trợ cụ thể như kinh phí học tập, lệ phí thi chứng chỉ và bố trí thời gian hợp lý.
Ông Vinh cũng nhấn mạnh, ngoại ngữ chỉ là một trong nhiều yếu tố cấu thành năng lực giáo viên. Nếu quá tập trung vào tiêu chí này, có thể vô tình làm lu mờ những yếu tố cốt lõi như chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm hay kỹ năng tổ chức dạy học.
Trong bối cảnh công nghệ và trí tuệ nhân tạo phát triển mạnh mẽ, việc tiếp cận tri thức đa ngôn ngữ ngày càng dễ dàng, do đó yêu cầu về ngoại ngữ cần được đặt trong tổng thể mục tiêu giáo dục, thay vì trở thành một “thước đo duy nhất”.