Đại hội XIV của Đảng không chỉ là một đại hội có tính nhiệm kỳ. Đây là đại hội mang tầm vóc lịch sử, mở ra giai đoạn phát triển mới với tầm nhìn chiến lược rộng mở, xác định đường lối cùng những quyết sách đột phá mạnh mẽ chưa từng có. Ở thời điểm này, những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử trong 40 năm đổi mới đã tạo nên một bệ phóng đáng tin cậy để đất nước ta bước vào “kỷ nguyên vươn mình” của dân tộc. Bệ phóng đó không chỉ được xây đắp bằng giá trị vật chất mà còn bằng một nguồn năng lượng tinh thần mạnh mẽ.
Với phương châm “Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển”, Đại hội XIV thể hiện tinh thần đổi mới rất toàn diện: mới trong nội dung phát triển, mới trong cách thể hiện các văn kiện, mới trong tổ chức triển khai thực hiện… Đó là việc xác lập những nguyên tắc để đất nước phát triển đúng hướng. Đó là việc hoàn thiện, tạo đột phá toàn diện về thể chế để phát triển nhanh và bền vững. Đó là xác lập mô hình tăng trưởng mới, thích ứng với những chuyển đổi rất lớn của thế giới như: chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi về nguồn nhân lực… Điểm khác biệt nổi bật là những quan điểm, tư tưởng trong văn kiện Đại hội XIV đã được cụ thể hóa sâu sắc bằng hệ thống giải pháp và chính sách khả thi để triển khai ngay trước thềm đại hội. Ở Đại hội XIV, Báo cáo Chính trị, Báo cáo Kinh tế - Xã hội, Báo cáo xây dựng Đảng, Báo cáo thi hành Điều lệ Đảng được tích hợp vào một Báo cáo Chính trị thống nhất; gắn liền với Chương trình hành động rất cụ thể, rõ người, rõ cơ quan, đơn vị, rõ công việc, rõ nguồn lực, rõ thời gian thực hiện. Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh, Đại hội phải thật sự là Đại hội của trí tuệ, bản lĩnh và khát vọng; nói đúng sự thật, nhìn thẳng vào thực tiễn; bàn đúng những vấn đề cốt lõi, then chốt của đất nước; và quyết đúng những việc cần quyết vì lợi ích quốc gia-dân tộc và hạnh phúc của nhân dân.
Những vấn đề quan trọng được thảo luận và quyết định tại Đại hội XIV mang theo những thông điệp lớn, có sức lay động.
1.Nhân tố có tính nền tảng, luôn mang ý nghĩa sống còn là vấn đề đoàn kết trong Đảng, Đảng ở trong dân và đại đoàn kết toàn dân tộc. Trên mảnh đất hình chữ S có 54 dân tộc sinh sống với nhiều tôn giáo, tín ngưỡng, bản sắc văn hoá rất đa dạng, nhưng không có mâu thuẫn, xung khắc tôn giáo và dân tộc mà luôn chung sống trong tinh thần hoà hợp, đại đoàn kết dân tộc bền vững. Ở mỗi thời điểm lịch sử phải đối mặt với những thử thách hiểm nghèo, sống còn thì tinh thần yêu nước và đại đoàn kết toàn dân tộc càng được củng cố, nêu cao, trở thành một sức mạnh vô song, lập nên những kỳ tích, chiến công hiển hách.
Đảng ở trong dân, quan hệ máu thịt giữa Đảng với dân mãi mãi là bài học cốt tử nhất, thiêng liêng nhất để Đảng tồn tại, trưởng thành và giữ vững vai trò lãnh đạo đất nước. Đảng không có một lợi ích nào khác ngoài làm cho đất nước phát triển, nhân dân hạnh phúc. Mục tiêu dựng xây đất nước hùng cường phải luôn gắn với bảo đảm cuộc sống hạnh phúc của nhân dân. Từ ngày 17- 10-1945, trong thư gửi Uỷ ban nhân dân các kỳ, tỉnh huyện và làng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc nhở: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì”. Một cách tự nhiên, dân coi công việc của Đảng là công việc của mình. Thật gần gũi và sâu sắc khi dân gọi Đảng Cộng sản Việt Nam là “Đảng ta”. Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh, gắn kết chặt chẽ “ý Đảng, lòng dân” là vấn đề mang tính chiến lược của Đảng. Đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, quản lý theo hướng gần dân, sát dân, lắng nghe dân, tôn trọng dân và dựa vào dân. Mọi chủ trương, chính sách phải hướng đến nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, lấy sự hài lòng và niềm tin của nhân dân làm thước đo hiệu quả. Tiến bộ, công bằng xã hội, hạnh phúc của nhân dân là mục tiêu tối thượng của Đảng. Khát vọng “giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc” phải được hiện thực hóa bằng những cải thiện cụ thể trong đời sống nhân dân bằng việc hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội toàn diện, nâng cao chất lượng y tế, giáo dục, nhà ở, phúc lợi xã hội; quan tâm hơn nữa đến vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, đối tượng yếu thế.
Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực có kết quả là điều kiện tiên quyết để giữ vững niềm tin của nhân dân. Trong nhiệm kỳ tới, cần tiếp tục kiên trì quan điểm “chống để xây”, “làm trong sạch bộ máy để phát triển lành mạnh”, chuyển mạnh từ xử lý sang phòng ngừa là chính. Giải pháp trọng tâm là hoàn thiện thể chế, bịt kín các kẽ hở trong quản lý nhà nước, nhất là trong các lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực như đất đai, đầu tư công, tài sản công, đấu thầu, tài chính-ngân hàng.
Mỗi đảng viên dù ở cương vị nào đều phải thấm thía lời dạy của Chủ tịch Hồ Chi Minh “Giữ gìn sự đoàn kết của Đảng như giữ gìn con ngươi trong mắt mình”. Sự đoàn kết của Đảng là hạt nhân cho khối đoàn kết toàn dân tộc. Chỉ có đoàn kết thực sự khi thực hiện dân chủ thực chất và duy trì kỷ cương nghiêm minh. Trong “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”, lòng yêu nước, tinh thần đại đoàn kết, trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam cần được tập trung cao độ để đạt mục tiêu là nước phát triển, thu nhập cao ở cột mốc lịch sử 100 năm thành lập nước vào năm 2045. Hai mươi năm không phải là một thời gian quá dài để đạt mục tiêu vĩ đại đó. Vì vậy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, bản lĩnh, trí tuệ của toàn dân tộc, tâm sức của mọi con dân đất Việt từ mọi phương cần được hội kết và toả sáng ở một cấp độ mới cao hơn để hiện thực hoá bằng được khát vọng hùng cuờng, phồn vinh, hạnh phúc.
2. Việt Nam vươn mình, cất cánh bằng xung lực nào? Nhìn từ những yếu tố có tính nền tảng như: truyền thống lịch sử, văn hoá; vị trí địa lý, địa - chính trị, tài nguyên, dân số; bản lĩnh, trí tuệ của dân tộc trong tiến trình dựng nước và giữ nước, vị thế quốc tế; đặc biệt là khát vọng vươn tới của người Việt Nam thì triển vọng Việt Nam “cất cánh” không phải là xa vời. Ba điểm nghẽn đã được xác định: thể chế, hạ tầng, nhân lực. Vì thế, xung lực cất cánh chính là từ ba khâu đột phá chiến lược đã được nêu rõ trong Báo cáo chính trị Đại hội XIV: Hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Các khâu đột phá chiến lược này được đẩy mạnh trong bối cảnh Việt Nam đang quyết liệt tiến hành một cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy hệ thống chính trị sâu rộng chưa từng có từ trước tới nay.
Thể chế được xem là “nguồn lực gốc của các nguồn lực”. Chỉ khi thể chế được khơi thông, hoàn thiện theo hướng kiến tạo thì các nguồn lực khác mới phát huy được hết sức mạnh. Khi đất nước bước vào “kỷ nguyên vươn mình”, vấn đề cải cách thể chế càng trở nên nóng bỏng. Phải hoàn thiện pháp luật theo hướng khơi thông mọi nguồn lực, mở rộng không gian đổi mới sáng tạo để “người dân được làm những luật pháp không cấm”. Phải chấm dứt quan điểm “không quản được thì cấm”. Cần đột phá tư duy để thực sự chuyển từ một nền hành chính quản lý sang nền hành chính kiến tạo và phục vụ. Một bộ máy nhiều tầng nhiều nấc trung gian, song trùng, chồng chéo với biết bao quy trình thủ tục rườm rà, phức tạp sẽ che lấp ánh sáng của sự minh bạch, nơi sẽ là mảnh đất tốt cho những tính toán vụ lợi và tệ trốn tránh trách nhiệm.
Một nền quản trị quốc gia chỉ thực sự tốt khi pháp trị được đề cao, công việc vận hành của Nhà nước được minh bạch, chế độ trách nhiệm được xác lập rõ ràng, người dân được tham gia vào quá trình hoạch định và thực hiện chính sách và đương nhiên không thể thiếu một cơ chế giám sát chặt chẽ đối các cơ quan nhà nước có quyền cấp phép, có quyền phân bổ các nguồn lực.
Nếu cái gì cũng quản lý, hoặc lối nghĩ “quản lý được đến đâu thì cho phát triển đến đó” vô hình trung tạo rào cản, thu hẹp không gian sáng tạo và hành động, dễ dẫn đến sự tù đọng, bức bối, chán nản, triệt tiêu năng lượng đột phá tạo ra cái mới. Tôi nhớ, tại phiên họp chuyên đề về xây dựng pháp luật tháng 4-2025, Thủ tướng Phạm Minh Chính nêu rõ: "Không biết thì không quản”. Câu nói ngắn gọn này thể hiện một tư duy pháp lý mới mẻ về quản lý Nhà nước, chuyển hẳn từ tư duy “không quản được thì cấm” sang “không biết thì không quản”, từ kiểm soát sang khuyến khích sáng tạo và thử nghiệm. Đó là một tầm nhìn chiến lược trong bối cảnh cạnh tranh quyết liệt khi một thế giới hội nhập sâu rộng mà quốc gia nào có thể chế linh hoạt thì sẽ chiếm lĩnh lợi thế bằng bước tiến vượt trội.
Thực tế cho thấy chỉ khi nào người dân được làm những gì luật pháp không cấm, còn hệ thống công quyền chỉ được làm những gì luật pháp cho phép thì không gian sáng tạo rộng mở, kinh doanh nhộn nhịp, đời sống dựng xây thêm sinh khí. Phải thực hiện nghiêm nguyên tắc phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực; làm rõ trách nhiệm cá nhân, nhất là trách nhiệm người đứng đầu. Xây dựng cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, tạo môi trường để “người làm đúng không bị thiệt, người làm tốt không bị cô đơn”.
3. Đảng ta xác định phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược. Cần thu hút nguồn nhân lực cao trong cả ba lĩnh vực: nghiên cứu, quản lý và ứng dụng, nhất là các ngành mũi nhọn, các xu thế phát triển mới để có thể “đi sau, về trước” như chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế tri thức, đổi mới sáng tạo… Lâu nay ta vẫn nói nhiều về việc trọng dụng nhân tài, nhưng trên thực tế, khâu trọng yếu này chưa thực sự trở thành quốc sách, các chính sách, cơ chế chưa có sức hút, chưa phát triển mạng lưới kết nối nhân tài người Việt Nam cả trong nước và nước ngoài. Nói là trọng dụng nhân tài nhưng lại không có chính sách đãi ngộ thoả đáng, có tính vượt trội đối với nhân tài thì đó chỉ là lời nói suông. Người tài thực sự là người luôn trọng danh dự. Vì ngoài chế độ lương, nhà ở hay các ưu đãi vật chất khác, điều đặc biệt quan trọng nữa là phải tạo môi trường làm việc thông thoáng để nhân tài phát huy khả năng sáng tạo, cống hiến được nhiều nhất cho đất nước. Cần có cơ chế phát huy dân chủ, tự do sáng tạo, trong đó có việc cho vận dụng “hộp thử nghiệm cơ chế chính sách sandbox”, cùng với việc thành lập và sử dụng có hiệu quả các quỹ để khuyến khích nhân tài.
Con người phải luôn ở trung tâm của mọi đường lối, chính sách phát triển. Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định, phát triển vì con người và bằng tri thức là trụ cột của mô hình tăng trưởng mới. Tập trung đầu tư cho giáo dục- đào tạo, khoa học- công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là giải pháp then chốt. Cần tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật theo hướng đồng bộ, minh bạch, ổn định, dễ thực thi; giảm chồng chéo, mâu thuẫn, tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư, sản xuất- kinh doanh và đổi mới sáng tạo. Cải cách hành chính phải đi vào thực chất, lấy chuyển đổi số làm công cụ đột phá để nâng cao hiệu quả phục vụ người dân và doanh nghiệp. Cần nâng cao năng lực hoạch định và tổ chức thực thi chính sách, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức chuyên nghiệp, liêm chính, có tư duy chiến lược, năng lực quản trị hiện đại và tinh thần phục vụ.
4.Cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy hệ thống chính trị Việt Nam mang trong mình đòi hỏi cấp thiết, nóng bỏng như một lời phán quyết của lịch sử!
“Biết người là thông minh, nhưng biết mình mới là thông tuệ”. Nhận biết đúng mình là bài học quý giá của những năm đổi mới. Vấn đề “nóng” nhất, bao trùm nhất trong xã hội ta vào thời điểm này chính là thực hiện chính quyền địa phương hai cấp. Điểm khác biệt để việc tinh gọn bộ máy lần này được coi là cuộc cách mạng, trước hết ở tinh thần quyết liệt, thể hiện ở cách làm trực diện, trực tiếp, cụ thể với định danh, định lượng, mốc thời gian được xác định rõ ràng với một tinh thần khẩn trương chưa từng thấy. Tinh gọn bộ máy chính là khả năng tự nhìn nhận được những hạn chế, những điểm yếu, thể hiện bản lĩnh vượt qua chính mình của người Việt Nam, quyết từ bỏ lề thói cũ để thắng nghèo nàn, lạc hậu. Đây không chỉ đơn thuần là điều chỉnh tổ chức bộ máy, địa giới hành chính mà còn là việc điều chỉnh không gian kinh tế, điều chỉnh sự phân cấp, phân bổ nguồn lực để phát triển. Đây không chỉ là thay đổi cách thức vận hành, cải cách quy trình của bộ máy công quyền mà nhìn xa hơn còn góp phần để định hình tư duy phát triển của dân tộc và tương lai của đất nước.
Giảm đầu mối, bớt nhân sự nhưng không để trống trận địa, bỏ sót chức năng, nhiệm vụ. Hết sức tránh tình trạng người giỏi rời đi, người kém ở lại trong bộ máy công quyền. Tinh gọn để bộ máy nhẹ hơn, linh hoạt hơn, có sức bật xa hơn. Bộ máy chỉ vận hành hiệu năng, hiệu quả khi quyền lực được trao cho người đủ độ tin cậy cả về năng lực và phẩm hạnh. Vì thế, phân quyền không chỉ là trao quyền mà sâu xa hơn là trao niềm tin cậy và trao trách nhiệm phụng sự. Quyền luôn gắn với trách nhiệm giải trình.
Chúng ta thường nói nhiều về tiềm lực, năng lực, nỗ lực, nhưng dường như đang xem nhẹ, hoặc chưa đặt đúng vị trí các yếu tố cực kỳ quan trọng là hợp lực, tổng lực để tạo động lực mạnh trong tiến trình phát triển. Thế giới đang đang biến đổi từng ngày. Khoa học- công nghệ, trí tuệ nhân tạo (AI) đang tạo ra “những đột phá không tưởng”, gây nên những con sóng lớn không chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà sang chấn cả về văn hoá và xã hội. Xây dựng chiến lược tổng thể quốc gia cũng như chiến lược trong từng lĩnh vực không chỉ là việc nắm bắt cơ hội trong ngắn hạn mà quan trọng hơn là tầm nhìn xa, thấy được những thách thức trong tương lai để sẵn sàng đối mặt và vượt qua.
5. Sự đột phá tư duy về văn hoá của Đảng ta đã được thể hiện sáng rõ trong Báo cáo Chính trị Đại hội XIV cũng như Nghị quyết số 80 của Bộ Chính trị về phát triển văn hoá Việt Nam. Theo đó, văn hoá vừa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, là hệ điều tiết cho phát triển nhanh, bền vững. Văn hoá được đặt trong mối hữu cơ với kinh tế, chính trị, xã hội, khoa học - công nghệ, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Đó là quan điểm phát triển bền vững dựa trên giá trị văn hoá và con người.
Toàn bộ hệ thống của chúng ta cần nhận thức sâu sắc rằng trong mỗi quyết sách trong mọi lĩnh vực, văn hóa cần hiện diện để soi rọi, cảnh báo và điều chỉnh. Cần chấm dứt tình trạng còn khá phổ biến coi văn hoá chỉ là để giải trí, thậm chí hạ thấp văn hoá, coi chỉ là “chuyện cờ đèn kèn trống”. Những lệch lạc đó đã dẫn tới những hệ luỵ và hậu quả rất nghiêm trọng. Văn hoá thiếu vắng hoặc mờ nhạt cả trong quá trình lập và điều hành chính sách, thứ tự ưu tiên giải quyết các vấn đề cấp thiết của đời sống xã hội. Đã không thiếu những dự án bất động sản nuốt chửng những nhu cầu văn hoá thiết yếu; nhiều nơi thiếu hụt quỹ đất cho nhà trẻ, trường mẫu giáo, công trình văn hoá.
Rõ ràng, khi văn hoá bị xem nhẹ thì các yếu tố thị trường lêch lạc sẽ lấn lướt, các món lợi vật chất sẽ hất tung gía trị tinh thần, thậm chí các yếu tố phi văn hoá, phản nhân văn có thể xâm nhập vào môi trường chính trị, kinh tế, gây nên những hậu quả khôn lường. Trong khi đó, nếu chúng ta thấm nhuần vai trò và giá trị của văn hoá thì mọi hoạt động văn hóa, nếu được tổ chức tốt, chắc chắn sẽ còn đem lại những lợi ích kinh tế không nhỏ. Trong giá trị kinh tế do văn hóa mang lại sẽ có cả giá trị tinh thần.
Những công trình mà chúng ta đang xây dựng hôm nay, cả ở đô thị và ở nông thôn, đều phải vừa giải quyết được những đòi hỏi gay gắt, cấp thời của hiện tại, lại phải đáp ứng được yêu cầu, xu hướng phát triển tất yếu của tương lai. Không những thế, các công trình tiêu biểu cần tạo được dấu ấn đẹp, xứng đáng là niềm tự hào về thời đại chúng ta đang sống để đến mai sau, hậu thế lại trân trọng bảo tồn. Đó là sự tiếp nối lịch sử thiêng liêng để non sông gấm vóc ta ngày càng rạng rỡ.
Trong xã hội thời gian qua, đã xuất hiện nhiều tiếng nói mong muốn việc đặt tên cho các địa phương mới sau sáp nhập cần đặc biệt quan tâm đến các yếu tố lịch sử, văn hoá, tâm linh, bảo vệ và phát huy những giá trị truyền thống quý giá, nét đặc sắc của các vùng đất đã in sâu trong tim người Việt qua các thế hệ. Tên gọi không chỉ là danh xưng. Dư luận hoan nghênh Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và một số địa phương đã chọn những địa danh nổi tiếng, đã in sâu vào trái tim người dân để đặt tên cho các phường, xã mới. Đó là cách làm đúng đắn, biết khai thác giá trị lịch sử văn hoá truyền thống quý báu cho công cuộc phát triển hôm nay và mai sau. Trong quá trình sáp nhập các địa phương, thực hiện các dụ án kinh tế, văn hoá, xã hội cũng như trong sáng tạo, thực hiện, tôn vinh các tác phẩm, sản phẩm văn hoá - nghệ thuật, cần hết sức tránh gây những tổn thương về văn hoá, tinh thần, làm mai một, lung lay các giá trị truyền thống đã được xây đắp từ bao đời, làm phai mờ những cống hiến, hy sinh vì đất nước của các thế hệ tiền nhân.
Xây dựng văn hóa chính là xây dựng con người. Tận cùng của văn hoá là con người. Sự phát triển và hoàn thiện của con người cần và chỉ có thể thực hiện trong văn hóa và bằng văn hóa. Văn hoá ứng xử là gương mặt của văn hoá. Từ văn hóa ứng xử có thể thấy cốt cách, tâm hồn của dân tộc. Điều đáng báo động là một số nét đẹp văn hoá của dân tộc đang bị mai một, biến dạng trước sự xâm nhập của một thứ làn sóng lai căng, kịch hợm. Bên cạnh sự tinh tế, lòng nhân ái thì đang nảy sinh những hiện tượng xô bồ, phản cảm thật đáng lo ngại.
Thật đáng khích lệ, gần đây trong lĩnh vực văn hoá nghệ thuật, đang lan toả những câu chuyện đẹp, đó là MV âm nhạc Bắc Bling, với sự tham gia của nghệ sĩ thuộc hai thế hệ Xuân Hinh và Hoà Minzy - Tuấn Cry, tạo cảm xúc mạnh mẽ về sức sống bất diệt của văn hoá dân tộc nếu có sự vào cuộc tâm huyết, tài năng và sáng tạo của lớp trẻ. Thật tự hào về vẻ đẹp quyến rũ của văn hoá dân tộc ta khi thưởng thức MV Bắc Bling. Nhiều nơi, trẻ em cấp tiểu học cũng đã thuộc lòng và hát vang Bắc Bling. Không chỉ người Việt Nam mà nhiều người nước ngoài cũng rất thích thú khi xem MV này. Điều đó cho thấy khả năng hội nhập và lan toả tuyệt vời của văn hoá truyền thống Việt Nam trong cảm hứng sáng tạo của thế hệ mới.
Ngay trong dịp kỷ niệm 50 Ngày giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước, và 80 năm ngày đất nước độc lập, hai bộ phim ”Địa đạo - Mặt trời trong bóng tối” của đạo diễn Bùi Thạc Chuyên và “Mưa đỏ” của đạo diễn Đặng Thái Huyền (Điện ảnh Quân đội nhân dân) là hai tác phẩm điện ảnh xuất sắc, đầy tinh thần sáng tạo nghệ thuật và trân trọng lịch sử - được công chiếu rộng rãi đã gây một cảm xúc mạnh mẽ trong công chúng, không chỉ trong lớp khán giả lớn tuổỉ đã trải qua chiến tranh mà còn trong đông đảo những người trẻ tuổi về tinh thần quả cảm, khiên trung, tâm hồn cao đẹp, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc của những con người đã sống và chiến đấu vì đất nước.
6. Điều gì cốt yếu nhất trên con đường đi tới thành công? Ánh sáng từ Đại hội XIV của Đảng cho thấy rõ: Một trong những mấu chốt quan trọng bậc nhất là Việt Nam phải xây dựng và vận hành được một thể chế quản trị quốc gia hữu hiệu hơn nữa với những cơ chế có thể giải phóng cao nhất sức lao động, sáng tạo sung mãn của người Việt Nam.
Đại hội XIV của Đảng đang khích lệ tinh thần Việt Nam thành một động lực vĩ đại trong kỷ nguyên phát triển mới. Khát vọng cống hiến đang bừng rộ trong những con tim yêu nước. Ở lĩnh vực nào cũng có những câu chuyện đẹp, truyền cảm hứng. Những tài năng Việt trên mọi miền Tổ quốc và chân trời thế giới đang được ươm mầm, phát lộ và toả sáng để làm đẹp hơn nữa những giá trị Việt được hun đúc, tô thắm từ bao đời. Chân trời sáng tạo đang rộng mở. Rất nhiều trí thức, nhà khoa học trẻ đã và đang cống hiến cho đất nước những phát minh, sáng chế trên các lĩnh vực, thể hiện tinh thần vào cuộc mới của bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam.
Trên ngưỡng cửa của kỷ nguyên mới, những trang đời mới của cả dân tộc cũng như của mỗi con dân đất Việt đang mở ra. Thế nước đang lên! Thế Việt Nam là thế của một quốc gia đang tự cường, tự chủ chiến lược. Đó là thế của một quốc gia nằm ở điểm hội tụ của những nền văn minh lớn, của những luồng giao lưu quan trọng, của những mối quan hệ quốc tế phức tạp và nhạy cảm nhất. Vận hội là đây, thử thách cũng là đây! Trong thế đó, ẩn chứa những nguồn lực to lớn, mà nguồn lực quý báu nhất, quyết định nhất là con người Việt Nam cần cù, thông minh, quả cảm, năng động, giàu lòng nhân ái.