Ngày 17/10, Bệnh viện Đa khoa Phương Đông tổ chức Diễn đàn Khoa học và Hợp tác quốc tế trong Ung thư và Y học hạt nhân, quy tụ các chuyên gia trong nước và quốc tế nhằm cập nhật những tiến bộ trong phẫu thuật, xạ trị, điều trị đích, miễn dịch và ứng dụng y học hạt nhân trong chẩn đoán, điều trị ung thư.
Cá thể hóa điều trị từ đặc điểm sinh học khối u
TTƯT.PGS.TS.BSCC Trần Đình Hà, Phó Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Phương Đông, Giám đốc Trung tâm Ung bướu, Xạ trị và Y học hạt nhân Quốc tế Phương Đông cho biết, diễn đàn tập trung vào những phương pháp mới trong phẫu thuật ung thư, kỹ thuật xạ trị tiên tiến, điều trị bằng thuốc đích, liệu pháp miễn dịch và các ứng dụng của y học hạt nhân.
Ung thư học chính xác là phương pháp chăm sóc và điều trị dựa trên đặc điểm sinh học của khối u, đồng thời xem xét các yếu tố riêng của người bệnh. Mục tiêu là lựa chọn phương pháp phù hợp, nâng cao hiệu quả điều trị và hạn chế những tác động không cần thiết.
Để triển khai cách tiếp cận này, bác sĩ cần xác định chính xác loại mô bệnh học, giai đoạn bệnh và tình trạng lâm sàng của bệnh nhân. Tiếp đó, việc phân tích các dấu ấn sinh học (marker) và đột biến gene giúp làm rõ những đặc điểm của khối u, từ đó cung cấp cơ sở lựa chọn phương pháp điều trị.
“Chúng ta sẽ phối hợp tất cả các dữ liệu để đưa ra phương thức điều trị cho người bệnh, thường là kết hợp đa mô thức và cá thể hóa theo đặc điểm sinh học của khối u cũng như đặc điểm cá nhân”, ông Hà cho biết.
Ông Hà cũng đề cập tiềm năng ứng dụng AI và công nghệ số trong ung thư học. Các công nghệ này có thể hỗ trợ tổng hợp, phân tích dữ liệu, phục vụ chẩn đoán, dự báo khả năng đáp ứng điều trị, đánh giá kết quả và hỗ trợ tiên lượng bệnh.
Theo ông, ứng dụng AI trong lĩnh vực ung thư đã bắt đầu có những bước tiến, tạo thêm công cụ hỗ trợ các bác sĩ trong quá trình ra quyết định. Tuy nhiên, công nghệ cần được đặt trong quy trình chuyên môn, phối hợp với kết quả thăm khám và đánh giá trực tiếp của đội ngũ y tế.
Từ nhận diện khối u đến đưa thuốc đến đúng đích
Trao đổi bên lề với phóng viên Báo Nhà báo và Công luận, GS.TS.TTND Mai Trọng Khoa, nguyên Phó giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, nguyên Giám đốc Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, hai lĩnh vực ung thư học và y học hạt nhân có mối liên hệ chặt chẽ trong chẩn đoán, điều trị bệnh.
Trong phẫu thuật ung thư, các kỹ thuật đánh dấu huỳnh quang có thể giúp phẫu thuật viên nhận diện tổn thương rõ hơn trong quá trình can thiệp. Công nghệ robot hỗ trợ thực hiện những thao tác phức tạp với độ chính xác cao trong các trường hợp phù hợp. AI cũng có tiềm năng hỗ trợ phân tích dữ liệu, cung cấp thông tin về vị trí can thiệp và nguy cơ trước, trong và sau phẫu thuật.
Bên cạnh đó, những tiến bộ trong xạ trị hướng tới việc đưa bức xạ đến vùng tổn thương chính xác hơn, hạn chế ảnh hưởng đến mô lành xung quanh. Thuốc điều trị đích lại tác động vào những phân tử hoặc cơ chế liên quan đến sự phát triển của tế bào ung thư. Trong khi đó, liệu pháp miễn dịch giúp hệ miễn dịch nhận diện và chống lại tế bào ác tính.
Mỗi phương pháp có cơ chế và chỉ định riêng. Việc lựa chọn phụ thuộc vào loại ung thư, giai đoạn bệnh, đặc điểm sinh học của khối u và tình trạng người bệnh.
Một hướng ứng dụng đáng chú ý khác là y học hạt nhân, đặc biệt trong việc phát hiện tổn thương và điều trị bằng dược chất phóng xạ.
Khác với các phương pháp chẩn đoán hình ảnh chỉ cung cấp thông tin về cấu trúc giải phẫu, một số kỹ thuật y học hạt nhân có thể ghi nhận hoạt động sinh học của mô thông qua dược chất phóng xạ. Dữ liệu thu được giúp bác sĩ có thêm căn cứ đánh giá tổn thương, từ đó phục vụ quá trình xác định giai đoạn và lựa chọn hướng điều trị.
Không chỉ dừng ở chẩn đoán, y học hạt nhân còn có thể đưa bức xạ đến các tế bào ung thư thông qua dược chất phóng xạ được thiết kế để hướng tới những đích sinh học nhất định.
GS Khoa phân tích, nếu xạ trị ngoài sử dụng nguồn bức xạ từ bên ngoài cơ thể chiếu vào vùng cần điều trị, thì liệu pháp điều trị bằng dược chất phóng xạ đưa tác nhân phóng xạ vào cơ thể. Dược chất có khả năng tập trung tại những vị trí mang đích sinh học phù hợp, phát ra bức xạ để tiêu diệt tế bào ác tính.
Cách tiếp cận này hướng tới tác động chọn lọc hơn lên tổ chức ung thư, đồng thời hạn chế ảnh hưởng đến mô lành. Tuy nhiên, hiệu quả và mức độ an toàn phụ thuộc vào loại dược chất, đặc điểm khối u, chỉ định và tình trạng cụ thể của bệnh nhân.