Phát triển kinh tế tư nhân phải đi đôi với kiểm soát tác động xã hội
Thứ nhất, một trong những chủ trương lớn, quan trọng của Đảng là phát triển mạnh mẽ kinh tế tư nhân; xác định đây là một động lực quan trọng của nền kinh tế quốc gia, góp phần khai thác hiệu quả vốn, đất đai, công nghệ, tạo sức bật đa chiều cho tăng trưởng năng động, linh hoạt và bền vững.
Không thể phủ nhận những lợi ích to lớn mà phát triển kinh tế tư nhân tất yếu mang lại, tuy nhiên cũng cần có thêm nhiều dự báo về những tác động mang tính quy luật khi phát triển thành phần kinh tế này.
Đó là những hệ lụy tiềm ẩn, những nguy cơ tác động tiêu cực tới thị trường, tài nguyên, môi trường và xã hội, đặc biệt là sự gia tăng khoảng cách giàu nghèo, phân hóa xã hội và về lâu dài có thể dẫn tới sự xuất hiện của các giai tầng với những lợi ích, mưu cầu khác nhau. Cùng với đó là sự chi phối, tác động khác nhau đến đường lối, chính sách chung của Đảng và Nhà nước.
Để đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, bên cạnh những giải pháp quản lý nhà nước về kinh tế nhằm bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh lành mạnh, an toàn, còn cần nhiều hơn các giải pháp mang tính chính trị – xã hội để định hướng sự phát triển đúng đắn của khu vực kinh tế tư nhân. Trong đó, cần mở rộng không gian cho việc bày tỏ nhu cầu, nguyện vọng và bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của thành phần kinh tế này thông qua việc xác định đúng vị trí, vai trò, tầm ảnh hưởng của các thiết chế chính trị – xã hội, chính trị – xã hội – nghề nghiệp trong hệ thống chính trị.
Thứ hai, trong quá trình vận động của xã hội, ở những giai đoạn nước rút hoặc đối với những việc quan trọng, cấp bách, để tận dụng các cơ hội hiếm có, trạng thái “vừa chạy vừa xếp hàng” là bước đi hợp lý, đáp ứng tốt yêu cầu nhanh về tiến độ. Tuy nhiên, về lâu dài, đặc biệt trong hoạch định và tổ chức thi hành chính sách, cần phải linh hoạt trong vận dụng, thay vì cứng nhắc thực hiện như một phương châm hành động.
Lịch sử cách mạng Việt Nam đã cho thấy, bên cạnh yếu tố nắm bắt thời cơ, sự thành công và ít tổn thất của các cuộc cách mạng luôn gắn liền với sự chín muồi về thời điểm, thông suốt về tư tưởng và đặc biệt là sự chuẩn bị tốt về các điều kiện bảo đảm, cũng như dự báo đúng các rủi ro có thể nảy sinh.
Việc điều chỉnh chính sách cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn là cần thiết, song sự nhất quán về đường lối, sự ổn định của chính sách cùng với sự chuẩn bị đầy đủ, kỹ lưỡng các yếu tố tiền đề mới là cơ sở vững chắc cho sự phát triển bền vững và tạo được niềm tin của bạn bè quốc tế.
Hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân
Thứ ba, một trong những nội dung mới, quan trọng trong chủ trương của Đảng được nêu trong dự thảo Văn kiện là “tăng cường công tác chăm sóc sức khỏe toàn dân, bảo đảm mạng lưới y tế cơ sở vững chắc, y tế dự phòng chủ động và ứng dụng công nghệ số trong quản lý y tế, để mỗi công dân đều được hưởng dịch vụ chất lượng cao”.
Tuy nhiên, giải pháp “chăm sóc sức khỏe người dân qua dịch vụ y tế” mới chỉ chú trọng đến sức khỏe thể chất và ở khâu cuối của quá trình bảo vệ sức khỏe.
Sau 40 năm đổi mới, nguyện vọng chung của nhân dân Việt Nam là được Đảng, Nhà nước quan tâm hơn nữa đến việc nâng cao chất lượng cuộc sống – một khái niệm tổng hợp bao gồm sự hài lòng, yên tâm và thoải mái cả về vật chất lẫn tinh thần, dựa trên nhiều yếu tố như giáo dục, y tế, môi trường, văn hóa, giải trí, an toàn xã hội… từ an toàn vệ sinh thực phẩm đến trật tự giao thông, từ chất lượng không khí, nước sạch đến ứng xử trong nhà trường, công sở; từ chăm sóc sức khỏe ban đầu đến các phúc lợi công cộng phục vụ đời sống vật chất và tinh thần.
Có thể coi “nâng cao chất lượng cuộc sống” là cách tiếp cận đến các chỉ số hạnh phúc của người dân. Nếu được đặt thành một mục tiêu bao trùm, một nhiệm vụ lớn, thì việc xác định giải pháp để đạt được các chỉ số này sẽ toàn diện, thiết thực hơn, qua đó thể hiện rõ hơn sự quan tâm và tầm mức của Đảng, Nhà nước trong đáp ứng nhu cầu thiết thực của nhân dân.
Đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số – đòn bẩy chiến lược của phát triển
Thứ tư, thực tiễn đang chứng minh tính đúng đắn trong chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia – coi đây là một trong những khâu đột phá hàng đầu, là động lực chính để đổi mới mô hình tăng trưởng, là đòn bẩy chiến lược để thay đổi vị thế quốc gia và mở ra nhiều cơ hội cho Việt Nam.
Trước hết, cần nhìn nhận đây không chỉ là các giải pháp mang tính kỹ thuật, mà còn là phương thức đổi mới mô hình quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, công khai, minh bạch, dựa trên dữ liệu số và công nghệ số. Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số có đặc thù là vừa mang tính chuyên môn sâu, vừa gắn với các yếu tố thế hệ, địa bàn và trình độ dân trí.
Vì vậy, bên cạnh các giải pháp chung áp dụng đại trà, cần có chính sách riêng, nhất là trong công tác đào tạo, hướng nghiệp, phổ cập kiến thức theo hướng phân hóa rõ ràng cho từng nhóm đối tượng.
Chẳng hạn, đối với các thế hệ 5x, 6x và ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa, cần tập trung vào việc giúp người dân tiếp cận, làm quen, sử dụng các sản phẩm trí tuệ phục vụ sinh hoạt hằng ngày; đối với các thế hệ 7x đến 9x, hướng đến việc làm chủ một phần đến phần lớn các sản phẩm trí tuệ phục vụ công việc và phát triển; còn đối với thế hệ 10x trở đi, mục tiêu là làm chủ hoàn toàn các thành quả của chủ trương này.
Bên cạnh đó, để bảo đảm ổn định xã hội, cần tính đến các giải pháp tổng thể về việc làm và sinh kế cho những nhóm đối tượng chịu tác động mạnh mẽ, thậm chí bị đào thải trước sự phát triển như vũ bão của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trong đó trí tuệ nhân tạo (AI) là một trụ cột điển hình.