Theo đó, Nghị quyết quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành điểm h khoản 1 Điều 20 của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân về nguyên tắc, nội dung, hình thức, trình tự, thủ tục và trách nhiệm của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội trong việc tổ chức phối hợp giám sát với cơ quan có liên quan của Quốc hội của quốc gia cùng ký kết điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế trong việc thực hiện điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế.
Hoạt động phối hợp giám sát việc thực hiện thỏa thuận quốc tế quy định tại Nghị quyết này áp dụng đối với thỏa thuận quốc tế giữa bên ký kết Việt Nam bao gồm Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán nhà nước, Văn phòng Chủ tịch nước, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ, cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh với bên ký kết nước ngoài.
Nghị quyết quy định 5 nguyên tắc phối hợp. Đó là tuân thủ các nguyên tắc hoạt động giám sát quy định tại Điều 3 của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Quy chế hoạt động đối ngoại của Quốc hội và quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước. Bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc; phù hợp với đường lối đối ngoại, bảo đảm thống nhất trong quản lý hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, phù hợp với điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, thỏa thuận quốc tế giữa bên ký kết Việt Nam với bên ký kết nước ngoài và điều kiện thực tế của các bên tham gia.
Không làm phát sinh trách nhiệm pháp lý của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo pháp luật quốc tế, không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết tranh chấp liên quan đến điều ước quốc tế (nếu có). Các hoạt động phối hợp giám sát việc thực hiện điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế được thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và lãnh thổ nước có cơ quan có liên quan của Quốc hội của quốc gia cùng ký kết điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế là hoạt động đối ngoại của Quốc hội Việt Nam trên cơ sở thống nhất giữa các cơ quan phối hợp giám sát và tuân thủ pháp luật của mỗi bên.
Theo Nghị quyết, nội dung phối hợp giám sát gồm: Việc ban hành, sửa đổi, bổ sung văn bản để thực hiện điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế của phía Việt Nam và quốc gia cùng ký kết điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế; Việc tổ chức thực hiện các cam kết trong điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc đã ký kết, trong đó, phải đánh giá chất lượng, hiệu quả của việc ký kết, thực hiện điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế; những hạn chế, khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân.
Việc đánh giá chất lượng, hiệu quả thực hiện các cam kết cần được đối chiếu, đo lường bằng các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật chuyên ngành tương ứng (nếu có) hoặc các tiêu chí, chỉ số đánh giá khác phù hợp. Cùng với đó là nội dung phối hợp giám sát khác mà Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội và cơ quan có liên quan của Quốc hội của quốc gia cùng ký kết điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế thống nhất, phù hợp với quy định pháp luật của mỗi bên.
Về hình thức phối hợp giám sát, Nghị quyết quy định: Tổ chức đoàn phối hợp giám sát chung việc thực hiện điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế; tổ chức cuộc họp phối hợp giám sát chung để xem xét báo cáo việc thực hiện điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế.