Báo cáo mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) về thực hiện Nghị định 238/2025 cho thấy, Sức khỏe là nhóm ngành có mặt bằng học phí cao nhất trong các lĩnh vực đào tạo đại học. Mức thu này được lý giải bởi chi phí đào tạo y khoa đặc thù, song cũng đặt ra câu hỏi về khả năng tiếp cận của người học và chính sách đãi ngộ sau khi tốt nghiệp.
Một năm học y có thể tốn hơn 80 triệu đồng
Khảo sát 58 cơ sở giáo dục đại học của Bộ GD&ĐT cho thấy, học phí có sự chênh lệch lớn giữa các nhóm ngành và mức độ tự chủ của từng trường.
Ở các trường tự bảo đảm chi thường xuyên, học phí tối đa nhóm Điều dưỡng, Kỹ thuật y học, Y tế công cộng lên tới 82,2 triệu đồng mỗi sinh viên mỗi năm, cao gấp 1,74 lần mức trần. Với Y học và Dược học, mức cao nhất là 79,5 triệu đồng, tương đương 127,8% mức trần.
Tại nhóm trường chưa tự bảo đảm chi thường xuyên, khoảng cách còn rõ hơn. Học phí bình quân nhóm Điều dưỡng, Kỹ thuật y học, Y tế công cộng bằng 152,9% mức trần, còn mức cao nhất lên tới 273,3%. Với Y học và Dược học, hai tỷ lệ này lần lượt là 139,9% và 196,5%.
Bộ GD&ĐT cho rằng, thực tế này phản ánh đặc thù của đào tạo khối ngành Sức khỏe. Sinh viên không chỉ học trong giảng đường mà còn phải thực hành, thực tập lâm sàng; các trường phải duy trì phòng thí nghiệm, hệ thống cơ sở thực hành tại bệnh viện, trang thiết bị chuyên môn, vật tư tiêu hao và đội ngũ giảng viên chuyên sâu.
Nói cách khác, chi phí đào tạo một bác sĩ không chỉ nằm ở học phí mà còn ở cả hệ thống thực hành phía sau.
Một số trường y cho rằng, cách phân nhóm hiện nay chưa phản ánh đầy đủ đặc thù của ngành Răng - Hàm - Mặt. Trường Đại học Y Hà Nội và Trường Đại học Y Dược - Đại học Huế kiến nghị xem xét đưa ngành này vào cùng nhóm học phí với Y học và Dược học, do yêu cầu về chuyên môn, thời lượng thực hành lâm sàng và cơ sở vật chất tương đương.
Nuôi con học y 40 triệu đồng mỗi tháng
Nếu học phí mới chỉ là một phần của khoản đầu tư, câu chuyện của một gia đình có con học y cho thấy chi phí thực tế có thể lớn hơn nhiều.
Bác sĩ Hoàng Thị Thu, hiện là trưởng khoa tại bệnh viện công ở Hà Nội cho biết gia đình chị hiện chi trung bình 40 triệu đồng mỗi tháng cho con đang học y và đồng thời theo học văn bằng hai ngoại ngữ.
Khoản tiền này gồm học tập, sinh hoạt, đi lại và những chi phí phát sinh. Riêng các khoản sinh hoạt, đi lại, ăn uống và những khoản “lăng nhăng” khác đã khoảng 12 triệu đồng mỗi tháng.
“Trung bình hiện tại tôi đang chi cho con khoảng 40 triệu một tháng”, bác sĩ Thu chia sẻ.
Con chị học y đồng thời theo học văn bằng hai tại Đại học Hà Nội, với hình thức kết hợp trực tuyến và trực tiếp. Việc học thêm một chương trình giúp sinh viên có thêm kỹ năng, nhưng cũng làm tăng đáng kể chi phí gia đình phải gánh.
Điều khiến người mẹ băn khoăn hơn là mức thu nhập sau khi con bước vào nghề.
Theo chị, sau khi trở thành bác sĩ nội trú tại bệnh viện công, con chị nhận khoảng 11-12 triệu đồng tiền lương mỗi tháng. Cộng thêm các khoản thu nhập khác của bệnh viện, tổng số cao nhất khoảng 16-17 triệu đồng.
“Mình chi nuôi cho con mình một tháng 40 triệu, nhưng ra bác sĩ nội trú, bệnh viện trả có mười mấy triệu, 11-12 triệu tiền lương cộng với chế độ khác của bệnh viện, cùng lắm được khoảng 16-17 triệu”, bác sĩ Thu nói thêm.
Bài toán phía sau học phí ngành Y
Khoảng cách giữa 40 triệu đồng chi phí mỗi tháng và 16-17 triệu đồng thu nhập không đơn thuần là câu chuyện “học phí cao, lương thấp”.
Để trở thành bác sĩ, người học phải trải qua nhiều năm đào tạo, thực hành, thực tập và tiếp tục học chuyên sâu. Bác sĩ nội trú còn là giai đoạn đặc biệt với cường độ làm việc cao, trực bệnh viện và chịu trách nhiệm chuyên môn ngày càng lớn, trong khi thu nhập những năm đầu vẫn tương đối hạn chế.
Trong cuộc trao đổi với phóng viên, một nhân viên y tế hiện công tác tại Bắc Ninh khác cho biết có vị trí chỉ hưởng lương theo hệ số 2,34.
Những con số này đặt ra bài toán về ai sẽ chia sẻ chi phí đào tạo nhân lực y tế và làm thế nào để người học có thể theo đuổi ngành Y mà gánh nặng tài chính không trở thành rào cản.
Nghị định 238/2025 đang chuyển dần việc xác định học phí theo hướng gắn với mức độ tự chủ và chi phí đào tạo thực tế. Với các chương trình đã được kiểm định, trường có thể xác định mức thu dựa trên định mức kinh tế - kỹ thuật và chi phí thực tế.
Theo bác sĩ Thu, cách tiếp cận này giúp cơ sở đào tạo có thêm nguồn lực để đầu tư cho chất lượng. Tuy nhiên, với những ngành có chi phí đặc biệt lớn như Y khoa, Dược học hay Răng - Hàm - Mặt, học phí khó có thể tách rời câu chuyện hỗ trợ người học và chính sách đãi ngộ nhân lực sau đào tạo.
"Nếu chi phí để trở thành bác sĩ ngày càng cao, nhưng thu nhập những năm đầu hành nghề vẫn thấp, ngành Y có thể trở thành một lựa chọn mà không phải gia đình nào cũng đủ khả năng theo đuổi, dù xã hội luôn cần thêm bác sĩ. Và khi đó, câu hỏi không chỉ là một sinh viên phải trả bao nhiêu tiền để học Y, mà còn là xã hội sẽ đầu tư thế nào để những người đã dành nhiều năm học tập, thực hành và đào tạo chuyên sâu có thể sống được bằng nghề và tiếp tục gắn bó với nghề", bác sĩ Thu nhấn mạnh.