Khi Trung Đông 'dậy sóng': Việt Nam cần có 'lá chắn' cho ngành năng lượng

(CLO) Ông Nguyễn Quốc Thập, Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam cảnh báo, biến động địa chính trị tại Trung Đông đang tác động trực diện tới giá năng lượng toàn cầu, kéo theo rủi ro lớn đối với an ninh năng lượng của Việt Nam.

Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam nhấn mạnh: Nếu không có giải pháp kịp thời và quyết liệt, Việt Nam sẽ đối mặt với những thách thức nghiêm trọng cả trong ngắn hạn lẫn dài hạn.

z7706848699241_fea19bf31078e850b042c41554400cbc.jpg
Ông Nguyễn Quốc Thập, Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam. Ảnh: VV

Xin ông cho biết, biến động địa chính trị tại Trung Đông đang ảnh hưởng như thế nào đến ngành dầu khí và kinh tế Việt Nam?

- Có thể thấy, những biến động tại Trung Đông đang tác động rất rõ rệt đến kinh tế toàn cầu, từ thị trường năng lượng đến thương mại và mặt bằng giá cả. Việt Nam không nằm ngoài vòng xoáy này.

Giá xăng dầu và nhiều loại hàng hóa đã và đang tăng lên theo phản ứng tức thì của thị trường trước diễn biến căng thẳng. Dù có những thời điểm xuất hiện tín hiệu hạ nhiệt, nhưng thực tế cho thấy tình hình vẫn rất phức tạp, thậm chí có xu hướng leo thang trở lại.

Đối với Việt Nam, áp lực càng lớn khi chúng ta vẫn phụ thuộc đáng kể vào nguồn nhập khẩu xăng dầu và dầu thô, trong đó có tỷ trọng không nhỏ đến từ khu vực Trung Đông. Trong ngắn hạn, tác động đã hiện hữu; còn nếu xung đột kéo dài, nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh năng lượng là rất đáng lo ngại.

Trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp dầu khí có cơ hội hay chỉ đối mặt rủi ro, thưa ông?

- Thực tế là có cả thách thức lẫn cơ hội. Với những doanh nghiệp có năng lực sản xuất trong nước, đặc biệt là các nhà máy lọc dầu, đây có thể là cơ hội để phát huy vai trò.

Hiện nay, Nhà máy lọc dầu Bình Sơn có lợi thế nhất định về nguồn cung trong nước. Trong khi đó, Nhà máy lọc dầu Nghi Sơn có thể vẫn duy trì ổn định trong ngắn hạn, nhưng về trung hạn sẽ đối mặt nhiều khó khăn nếu không có giải pháp kịp thời và quyết liệt.

Ở chiều ngược lại, hoạt động nhập khẩu sẽ ngày càng khó khăn. Dù có thể đa dạng hóa nguồn cung, nhưng vấn đề lớn nhất là giá cả và khả năng tiếp cận nguồn hàng. Trong bối cảnh nhu cầu toàn cầu tăng cao, Việt Nam có thể buộc phải tham gia đấu thầu để mua hàng, nhưng không phải lúc nào cũng đảm bảo mua được với giá hợp lý.

Vậy mức độ tự chủ năng lượng của Việt Nam hiện nay ra sao, thưa ông?

- Nếu hai nhà máy lọc dầu vận hành tối đa công suất, Việt Nam có thể tự chủ khoảng 65–70% nhu cầu xăng dầu. Tuy nhiên, xét tổng thể, chúng ta vẫn phụ thuộc lớn vào nhập khẩu.

Hiện nhu cầu xăng dầu của Việt Nam vào khoảng 26–27 triệu tấn mỗi năm, trong khi sản xuất trong nước mới đáp ứng được khoảng 14–15 triệu tấn. Phần còn lại buộc phải nhập khẩu, khiến rủi ro từ biến động bên ngoài trở nên rất rõ ràng.

Ông đánh giá thế nào về các giải pháp ứng phó hiện nay?

- Trong ngắn hạn, Chính phủ đã có những biện pháp khá hiệu quả, như sử dụng Quỹ bình ổn xăng dầu và bổ sung nguồn lực tài chính từ ngân sách để giảm áp lực giá.

Tuy nhiên, về trung và dài hạn, đây không phải giải pháp bền vững. Điều quan trọng là phải xây dựng hệ thống kho dự trữ dầu thô và xăng dầu – một bài toán đã được đặt ra từ lâu nhưng triển khai còn chậm.

Ngay cả khi đẩy nhanh tiến độ, việc xây dựng hệ thống dự trữ cũng cần ít nhất 24–30 tháng, thậm chí lâu hơn. Đây là khoảng trống lớn trong đảm bảo an ninh năng lượng hiện nay.

Thưa ông, biến động hiện tại có đặt ra yêu cầu điều chỉnh chiến lược năng lượng quốc gia không?

- Chắc chắn là có. Không chỉ Việt Nam mà nhiều quốc gia trên thế giới đều đang phải rà soát, điều chỉnh lại chiến lược an ninh năng lượng sau những biến động vừa qua.

Việt Nam đã có các quy hoạch như Quy hoạch năng lượng quốc gia hay Quy hoạch điện VIII, nhưng vấn đề là cần cập nhật, điều chỉnh kịp thời dựa trên những diễn biến mới. Nếu không, các chiến lược sẽ nhanh chóng lạc hậu và không còn phù hợp với thực tế.

Hoạt động khai thác dầu khí tại mỏ Đại Hùng
Hoạt động khai thác dầu khí tại mỏ Đại Hùng. Ảnh: PVO

Các dự án điện khí LNG có bị ảnh hưởng bởi tình hình này không, thưa ông?

- Ảnh hưởng là rất rõ. Các dự án điện khí LNG phụ thuộc lớn vào nguồn cung và giá khí nhập khẩu, trong khi hiện nay cả hai yếu tố này đều biến động mạnh và khó dự báo.

Điều này khiến bài toán tài chính trở nên rủi ro hơn, ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp. Nếu không tháo gỡ kịp thời các vướng mắc về cơ chế, chính sách, tiến độ triển khai các dự án này sẽ tiếp tục bị chậm lại.

Việc xây dựng kho dự trữ xăng dầu đang được thúc đẩy, ông đánh giá thế nào, thưa ông?

- Đây là việc lẽ ra phải làm từ lâu. Tuy nhiên, làm muộn vẫn tốt hơn là không làm.

Vấn đề quan trọng nhất hiện nay không phải là vốn hay kỹ thuật, mà là cơ chế. Làm sao để tạo điều kiện cho nhà đầu tư thấy đây là cơ hội, đồng thời đảm bảo hài hòa lợi ích và chia sẻ rủi ro đúng như tinh thần Chính phủ đã đề ra.

Theo ông, có cần vai trò của doanh nghiệp đầu tàu trong câu chuyện này không?

- Chính phủ đã xác định rõ vai trò nòng cốt của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam). Tuy nhiên, để thu hút thêm các nhà đầu tư, cần làm rõ hàng loạt vấn đề như: cơ chế giá, chính sách thuế, phí lưu trữ, quyền kinh doanh…

Đặc biệt, không chỉ xây kho mà còn phải giải bài toán nguồn dầu đưa vào kho. Nếu các chính sách được thiết kế đồng bộ, tôi tin rằng các dự án kho dự trữ xăng dầu sẽ sớm được triển khai và đi vào thực tế.

Xin cảm ơn ông!

Xem thêm

Ninh Bình: Kinh tế - xã hội 4 tháng đầu năm ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực

Ninh Bình: Kinh tế - xã hội 4 tháng đầu năm ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực

(CLO) Theo báo cáo của Thống kê tỉnh Ninh Bình, tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2026 của tỉnh tiếp tục ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực, với sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, du lịch tăng trưởng mạnh; đầu tư công được đẩy nhanh, trong khi đời sống dân cư cơ bản ổn định.
Doanh nghiệp nhà nước cần một cuộc cải cách thể chế thực chất

Doanh nghiệp nhà nước cần một cuộc cải cách thể chế thực chất

(NB&CL) Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của kinh tế nhà nước trong giai đoạn phát triển mới không chỉ dừng lại ở việc khẳng định vai trò chủ đạo, mà quan trọng hơn là định nghĩa lại cách thức thực hiện vai trò này theo hướng “kiến tạo – dẫn dắt – lan tỏa”. Tuy nhiên, để chuyển hóa tư duy thành năng lực thực chất, khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) phải vượt qua những mâu thuẫn nội tại kéo dài nhiều năm.
E100 Dung Quất trở lại: Mảnh ghép then chốt cho lộ trình xăng E10

E100 Dung Quất trở lại: Mảnh ghép then chốt cho lộ trình xăng E10

(CLO) Trong bối cảnh nhu cầu xăng dầu gia tăng và yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng, Nhà máy Nhiên liệu sinh học Dung Quất đã hoạt động trở lại với một vai trò mới; nguồn cung E100 ổn định, tạo lợi thế đặc biệt trong pha chế xăng sinh học. Sự phục hồi của nhà máy không chỉ mang ý nghĩa kỹ thuật mà còn mở ra triển vọng phát triển bền vững cho chuỗi nhiên liệu sinh học trong nước.
Cần Giờ đẹp mê hoặc trong ngày tranh tài VnExpress Marathon Green Paradise 2026

Cần Giờ đẹp mê hoặc trong ngày tranh tài VnExpress Marathon Green Paradise 2026

(CLO) Không chỉ chinh phục một trong những cung đường đẹp bậc nhất hệ thống VnExpress Marathon, hơn 5.000 runner và hàng ngàn du khách tới Cần Giờ dịp lễ này còn trực tiếp cảm nhận một siêu đô thị đang hiện hình với tốc độ hiếm thấy. Từ rừng Sác xanh ngút ngàn, gió biển khoáng đạt đến đại công trường rực sáng xuyên đêm, Vinhomes Green Paradise đang cho thấy một diện mạo chưa từng có khiến nhiều người không khỏi bất ngờ.
BSR quý I/2026 tăng trưởng mạnh, tổng doanh thu đạt 46.462 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế đạt 8.265 tỷ đồng

BSR quý I/2026 tăng trưởng mạnh, tổng doanh thu đạt 46.462 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế đạt 8.265 tỷ đồng

(CLO) Tổng Công ty Lọc hóa dầu Việt Nam (mã chứng khoán: BSR) vừa công bố báo cáo tài chính quý I/2026 với kết quả sản xuất kinh doanh tăng trưởng rất ấn tượng. Theo đó, tổng doanh thu hợp nhất đạt 46.462 tỷ đồng, và lợi nhuận sau thuế đạt 8.265 tỷ đồng - mức cao nhất so với cùng kỳ và vượt xa kỳ vọng của thị trường.
Cỡ chữ bài viết: