Theo báo cáo của Cục Thống kê (NSO), Bộ Tài chính, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4/2026 tăng 0,84% so với tháng trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 10 nhóm hàng tăng giá.
Đơn cử, CPI nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,58% so với tháng trước. Trong đó, nhóm lương thực tăng 0,67%, nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 1,94%, riêng nhóm thực phẩm có chỉ số giá không đổi so với tháng trước.
Báo cáo của NSO cũng cho thấy, trong nhóm lương thực, giá gạo tăng 0,64% so với tháng trước, nguyên nhân là do thị trường đang ở giai đoạn cuối vụ đông xuân, lượng lúa tích trữ giảm dần nên nguồn cung thu hẹp và chi phí vận chuyển, lưu thông tăng.
Bên cạnh đó, trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tiếp tục xu hướng tăng, trong đó giá gạo thơm 5% tấm đang được chào bán tăng 15 USD/tấn (khoảng 490-500 USD/tấn), góp phần đẩy giá gạo trong nước tăng.
Đối với nhóm ăn uống ngoài gia đình, mức tăng 1,94% phản ánh tình trạng chi phí nguyên liệu đầu vào tăng, trong đó giá gas tăng mạnh.
Bên cạnh đó, chi phí nhân công, thuê mặt bằng và vận hành tăng, cùng với việc một số địa phương tăng cường sắp xếp, quản lý hoạt động kinh doanh vỉa hè, lòng đường khiến các cơ sở kinh doanh điều chỉnh giá bán để bù đắp chi phí.
Đối với nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng trong tháng 4 ghi nhận mức tăng 2,59%. Trong đó, giá gas tăng 35,3%, giá dầu hỏa tăng 26,95%. Giá thuê nhà tăng 0,79% do một số chủ nhà trọ điều chỉnh giá thuê nhằm bù đắp chi phí nâng cấp và cải tạo nhà ở.
Giá dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 1,93% do chi phí nhân công tăng. Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 4,11% do chi phí đầu vào tăng, đặc biệt là giá nguyên, nhiên liệu sản xuất và chi phí vận chuyển. Bên cạnh đó, nhu cầu xây dựng tăng đã góp phần đẩy giá các loại vật liệu như cát, đá, xi măng, thép, gạch tăng.
Đáng chú ý, nhóm hàng hóa duy nhất giảm trong tháng 4 đó là nhóm giao thông, với mức giảm 0,81% so với tháng trước. Nguyên nhân là do giá xăng giảm 3,19%.
Tuy nhiên, một số nhóm hàng hóa, dịch vụ giao thông có xu hướng tăng. Đơn cử, giá dịch vụ giao thông công cộng tăng 12,43% do chi phí nhiên liệu tăng cục bộ, đặc biệt là giá dầu diezen.
Trong đó, giá vận tải hành khách bằng hàng không tăng 47,47%, đường sắt tăng 15,41%; đường bộ tăng 5,57%, dịch vụ giao nhận hành lý và hành lý ký gửi tăng 4,25%, tắc xi tăng 3,28%, xe buýt tăng 2,88%, đường thủy tăng 0,99%.
Cũng theo báo cáo NSO, bình quân 4 tháng đầu năm 2026 tăng 3,99% so với cùng kỳ năm 2025, phản ánh áp lực giá vẫn duy trì ở mức tương đối cao, trong đó nhóm nhà ở, vật liệu xây dựng và thực phẩm đóng vai trò dẫn dắt.
Cụ thể, nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 6,25%. Đặc biệt, giá nhà thuê tăng 6,47% do chi phí vận hành và duy trì gia tăng; giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng mạnh 13,52% trước nhu cầu xây dựng, sửa chữa tăng cao. Giá điện sinh hoạt cũng tăng 5,53% sau khi điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân từ tháng 5/2025.
Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,71%, mức đóng góp lớn nhất trong các nhóm hàng. Trong đó, giá thịt lợn tăng 6,07% do nguồn cung hạn chế trong dịp lễ, Tết và chi phí chăn nuôi cao; giá thịt gia cầm tăng 4,6%; dịch vụ ăn uống ngoài gia đình tăng 6,12% do chi phí đầu vào và dịch vụ leo thang.
Ở các nhóm khác, giá giáo dục tăng 3,25% khi nhiều cơ sở ngoài công lập điều chỉnh học phí trong năm học 2025 – 2026. Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 3,15%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,38%. Trong khi đó, nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 2,05%; may mặc, giày dép tăng 1,79%.
Nhóm giao thông tăng 3,48%, chủ yếu do giá nhiên liệu tăng 5,16% theo xu hướng giá xăng dầu.
Ở chiều ngược lại, nhóm thông tin và truyền thông giảm nhẹ 0,09% nhờ giá thiết bị công nghệ hạ nhiệt, khi nguồn cung dồi dào và cạnh tranh gia tăng giữa các nhà phân phối.
Về lạm phát cơ bản, tháng 4/2026 tăng 0,88% so với tháng trước và tăng 4,66% so với cùng kỳ. Tính chung 4 tháng đầu năm, lạm phát cơ bản tăng 3,89%, thấp hơn mức tăng CPI chung (3,99%). Nguyên nhân chủ yếu do giá xăng dầu, gas và thực phẩm – các yếu tố có biến động mạnh được loại trừ khỏi rổ tính lạm phát cơ bản