Thông tư đồng thời gắn chuẩn nghề nghiệp với hạng chức danh, vị trí việc làm, nhiệm vụ giảng dạy, chế độ làm việc và chính sách tiền lương, làm căn cứ để các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tuyển dụng, sử dụng, đánh giá và phát triển đội ngũ.
Lần đầu có 3 hạng chức danh riêng
Một trong những điểm mới đáng chú ý là giáo viên trung học nghề được xác định với 3 hạng chức danh gồm hạng I, hạng II và hạng III, đồng bộ với hệ thống chức danh nhà giáo trong giáo dục quốc dân.
Việc xác lập chức danh riêng giúp làm rõ vị trí việc làm, yêu cầu nghề nghiệp, nhiệm vụ và chế độ tiền lương, đồng thời tạo lộ trình phát triển nghề nghiệp theo từng hạng.
Chuẩn nghề nghiệp được thiết kế theo đặc thù “vừa giáo dục, vừa học nghề”, bao gồm yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp, trình độ đào tạo, bồi dưỡng và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ.
Thông tư quy định yêu cầu đào tạo đối với hai nhóm giáo viên: dạy phần kiến thức văn hóa THPT và dạy phần chuyên môn nghề.
Đặc biệt, giáo viên dạy chuyên môn nghề phải có năng lực sư phạm kết hợp với năng lực thực hành nghề, nhất là khi đảm nhiệm các nội dung thực hành, tích hợp. Đây là yêu cầu phù hợp với đặc thù giáo dục nghề nghiệp, đồng thời tạo sự đồng bộ với yêu cầu đối với giảng viên cao đẳng, giáo viên trung cấp dạy thực hành và giáo viên sơ cấp.
Mở cửa thu hút người giỏi nghề vào trường học
Một điểm đáng chú ý khác là Thông tư cho phép sử dụng bằng cử nhân hoặc văn bằng trình độ tương đương trở lên ở một số ngành đào tạo đại học đáp ứng yêu cầu dạy thực hành phần chuyên môn nghề trong chương trình trung học nghề.
Quy định này vừa nâng yêu cầu chất lượng đội ngũ, vừa tạo sự linh hoạt trong tuyển dụng, hạn chế phát sinh thủ tục hành chính không cần thiết.
Thông tư cũng kế thừa, công nhận các văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận về năng lực sư phạm và chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp, đồng thời quy định chuyển tiếp để nhà giáo giáo dục nghề nghiệp tiếp tục thực hiện nhiệm vụ giảng dạy các chương trình đào tạo trong cùng cơ sở.
Đáng chú ý, cách tiếp cận này mở rộng cơ hội thu hút những người có trình độ và kinh nghiệm thực tiễn như nghệ nhân, kỹ sư, bác sĩ, thầy thuốc, vận động viên hoặc người đạt giải thưởng nghề nghiệp quốc gia, quốc tế tham gia giảng dạy.
Đây được xem là hướng mở phù hợp với giáo dục nghề nghiệp, lĩnh vực đòi hỏi đội ngũ không chỉ có kiến thức sư phạm mà còn phải am hiểu công nghệ, kỹ thuật và thực tiễn nghề nghiệp.
Định mức giờ dạy không còn “đóng khung”
Về bổ nhiệm, xếp lương, Thông tư quy định giáo viên được bố trí vào vị trí việc làm nào thì được bổ nhiệm vào hạng chức danh tương ứng và phải đáp ứng chuẩn nghề nghiệp của hạng đó.
Khi thay đổi vị trí việc làm, việc xác định chức danh tương đương được thực hiện trên cơ sở tương đồng về trình độ đào tạo hoặc mức độ phức tạp của công việc, bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan và bình đẳng.
Đáng chú ý, chế độ làm việc của giáo viên trung học nghề được thiết kế theo hướng linh hoạt, bám sát nhiệm vụ giảng dạy thực tế.
Thông tư chia thành hai nhóm nhiệm vụ: dạy phần kiến thức chương trình THPT và dạy phần chuyên môn nghề. Giáo viên đáp ứng chuẩn nghề nghiệp có thể đồng thời giảng dạy cả hai phần trong cùng một năm học.
Định mức giờ chuẩn được xác định theo phần có khối lượng giảng dạy thực tế nhiều hơn. Nếu khối lượng hai phần bằng nhau, áp dụng định mức của giáo viên dạy phần chuyên môn nghề.
Như vậy, giáo viên trung học nghề không bị áp một định mức giờ chuẩn cứng nhắc, mà được xác định dựa trên nhiệm vụ và nội dung giảng dạy thực tế.
Thời gian làm việc cũng được thiết kế khác nhau: 42 tuần đối với giáo viên dạy phần kiến thức THPT và 44 tuần đối với giáo viên dạy phần chuyên môn nghề.
Bên cạnh giờ dạy, chế độ làm việc còn bao gồm các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ, đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, cập nhật kỹ năng thực hành và công nghệ mới. Tùy ngành nghề và nhiệm vụ được phân công, giáo viên có thể được giảm định mức hoặc quy đổi các nhiệm vụ này ra giờ chuẩn.
Thông tư đồng thời quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong việc bố trí, phân công nhiệm vụ theo vị trí việc làm; đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ; xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ.
Người đứng đầu cũng phải xác định sự phù hợp giữa năng lực thực hành nghề, trình độ chuyên môn của giáo viên với môn học, mô đun được phân công, qua đó tăng tính chủ động của cơ sở đào tạo nhưng vẫn gắn với trách nhiệm giải trình và chất lượng giáo dục nghề nghiệp.