Theo Nghị định số 335/2026/NĐ-CP ngày 21/8/2026, mức chuẩn trợ giúp xã hội là căn cứ để xác định mức trợ cấp xã hội hằng tháng, kinh phí hỗ trợ nhận chăm sóc, nuôi dưỡng và mức chi cho công tác chăm sóc, nuôi dưỡng tại các cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở chăm sóc người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em cùng các cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng khác.
Việc điều chỉnh mức chuẩn từ 500.000 đồng lên 540.000 đồng/tháng góp phần nâng mức hỗ trợ cho các nhóm đối tượng thụ hưởng, đáp ứng tốt hơn nhu cầu chăm sóc, sinh hoạt thiết yếu. Căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội và khả năng ngân sách địa phương, UBND cấp tỉnh trình HĐND cùng cấp quyết định mức chuẩn, mức trợ giúp xã hội cao hơn quy định chung; đồng thời xem xét bổ sung các nhóm đối tượng khó khăn khác cần được trợ giúp trên địa bàn.
Mở rộng hỗ trợ đối với các nhóm yếu thế
Nghị định quy định các nhóm được hưởng chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng, tập trung vào trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người đơn thân nghèo nuôi con, người cao tuổi thuộc hộ nghèo, người khuyết tật nặng và đặc biệt nặng, người nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo và một số nhóm có hoàn cảnh khó khăn khác.
Trong đó, trẻ em dưới 16 tuổi không có nguồn chăm sóc phù hợp do cha mẹ qua đời, mất tích, đang chấp hành án phạt tù hoặc được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội thuộc diện được xem xét hưởng trợ cấp theo quy định. Trẻ em thuộc các trường hợp này đang hưởng trợ cấp khi đủ 16 tuổi vẫn có thể tiếp tục được hưởng chính sách nếu đang theo học giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp hoặc chương trình đại học văn bằng thứ nhất và quá trình học liên tục, không bị gián đoạn, trừ trường hợp được tạm dừng hoặc bảo lưu kết quả theo quy định.
Chính sách cũng quan tâm đến trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo; trẻ em dưới 3 tuổi thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo sống tại các xã, thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đặc biệt khó khăn; người nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo, không có tiền lương, tiền công, lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng.
Đối với người đơn thân nghèo nuôi con, chính sách áp dụng cho người thuộc hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo chưa có vợ, chồng; hoặc đã có vợ, chồng nhưng người kia đã chết hay mất tích theo quy định pháp luật, đang trực tiếp nuôi con dưới 16 tuổi. Trường hợp người con đủ 16 tuổi nhưng tiếp tục học tập liên tục theo các chương trình được quy định, người nuôi con vẫn được hưởng trợ cấp đến khi người con kết thúc việc học.
Với người cao tuổi thuộc hộ nghèo, Nghị định quy định hỗ trợ đối với trường hợp không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc người phụng dưỡng đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng. Trường hợp người cao tuổi không có điều kiện sống tại cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở trợ giúp xã hội nhưng có người nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng cũng thuộc diện được hưởng chính sách theo quy định.
Bên cạnh đó, người khuyết tật nặng, người khuyết tật đặc biệt nặng tiếp tục được hỗ trợ phù hợp với mức độ khuyết tật và đặc điểm của từng nhóm đối tượng.
Mức trợ cấp được tính theo hệ số, ưu tiên người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
Theo Nghị định, mức trợ cấp xã hội hằng tháng được xác định bằng mức chuẩn trợ giúp xã hội 540.000 đồng nhân với hệ số tương ứng của từng nhóm đối tượng.
Cụ thể, trẻ em dưới 16 tuổi thuộc diện có hoàn cảnh đặc biệt theo quy định được hưởng mức trợ cấp với hệ số 2,5 đối với trẻ dưới 4 tuổi và hệ số 1,5 đối với trẻ từ đủ 4 tuổi trở lên. Như vậy, mức trợ cấp tương ứng là 1,35 triệu đồng/tháng đối với trẻ dưới 4 tuổi và 810.000 đồng/tháng đối với trẻ từ đủ 4 tuổi trở lên.
Trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo được hưởng mức 1,35 triệu đồng/tháng nếu dưới 4 tuổi và 1,08 triệu đồng/tháng nếu từ đủ 4 tuổi đến dưới 16 tuổi. Người đơn thân nghèo nuôi con được hưởng hệ số 1,0 cho mỗi người con đang nuôi, tương ứng 540.000 đồng/tháng cho mỗi con.
Đối với người cao tuổi thuộc hộ nghèo, mức trợ cấp được xác định theo độ tuổi và điều kiện chăm sóc. Người từ đủ 60 tuổi đến dưới 75 tuổi thuộc nhóm quy định được hưởng 810.000 đồng/tháng; người từ đủ 75 tuổi trở lên thuộc nhóm này được hưởng 1,08 triệu đồng/tháng. Trường hợp người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người phụng dưỡng, không có điều kiện sống tại cộng đồng nhưng có người nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng, mức trợ cấp tương ứng là 1,62 triệu đồng/tháng.
Đối với người khuyết tật, mức trợ cấp được tính theo mức độ khuyết tật và độ tuổi. Người khuyết tật đặc biệt nặng được hưởng mức tương ứng 1,08 triệu đồng/tháng; trẻ em khuyết tật đặc biệt nặng hoặc người cao tuổi là người khuyết tật đặc biệt nặng được hưởng 1,35 triệu đồng/tháng. Người khuyết tật nặng được hưởng 810.000 đồng/tháng; trẻ em khuyết tật nặng hoặc người cao tuổi là người khuyết tật nặng được hưởng 1,08 triệu đồng/tháng.
Trẻ em dưới 3 tuổi thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo sống tại địa bàn đặc biệt khó khăn và người nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo, không có các nguồn thu nhập được quy định, được hưởng mức trợ cấp tương ứng 810.000 đồng/tháng.
Trường hợp một người thuộc nhiều diện được hưởng trợ cấp theo các hệ số khác nhau hoặc theo các văn bản quy định về trợ giúp xã hội, nguyên tắc chung là hưởng một mức cao nhất. Riêng người đơn thân nghèo nuôi con đồng thời thuộc nhóm người cao tuổi, người khuyết tật hoặc người nhiễm HIV/AIDS theo quy định được hưởng cả chế độ dành cho người đơn thân nghèo nuôi con và chế độ tương ứng với nhóm đối tượng còn lại
Ngoài trợ cấp xã hội, các đối tượng thuộc diện quy định đang theo học chương trình giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp hoặc giáo dục đại học được hưởng chính sách hỗ trợ giáo dục, đào tạo theo quy định pháp luật.
Bảo đảm thực hiện chính sách kịp thời, đồng bộ
Nghị định số 335/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 5/10/2026. Các đối tượng đang hưởng chính sách theo Nghị định số 20/2021/NĐ-CP ngày 15/3/2021 và Nghị định số 176/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 được chuyển sang mức tương ứng theo quy định mới kể từ ngày 1/7/2026.
Để bảo đảm quyền lợi của người thụ hưởng, Chủ tịch UBND cấp xã có trách nhiệm rà soát danh sách đối tượng đang hưởng chính sách và quyết định chi trả theo mức mới từ ngày 1/7/2026. Người đứng đầu các cơ sở trợ giúp xã hội tổ chức thực hiện chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng theo mức quy định tại Nghị định.
Việc nâng mức chuẩn trợ giúp xã hội, đồng thời duy trì các chính sách hỗ trợ theo nhóm đối tượng và hoàn cảnh cụ thể, thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với công tác bảo trợ xã hội, góp phần chia sẻ khó khăn, bảo đảm an sinh và tạo điều kiện để những người yếu thế có thêm nguồn lực ổn định cuộc sống, tiếp cận giáo dục và hòa nhập cộng đồng.