Ba “điểm nghẽn” cản trở phát triển văn hóa
Sáng 22/4, tại phiên họp Quốc hội thảo luận đối với Dự thảo Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đột phá phát triển văn hoá Việt Nam, Đại biểu Quốc hội Trần Văn Khải (đoàn Ninh Bình) cho biết: Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đặt ra yêu cầu phát triển văn hóa trong mối quan hệ hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, giữa bảo tồn và phát triển, giữa đời sống thực với không gian số, cũng như giữa dữ liệu mở và bảo đảm an ninh, chủ quyền văn hóa số.
Tuy nhiên, để đạt mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn 2045, theo đại biểu, cần nhìn thẳng vào những rào cản hiện hữu, trong đó nổi lên ba “điểm nghẽn” lớn.
Trước hết, tỷ lệ chi ngân sách cho chuyển đổi số và hạ tầng công nghệ trong lĩnh vực văn hóa vẫn còn thấp so với yêu cầu thực tế. Thực tiễn tại các lĩnh vực như di sản, thư viện, bảo tàng, điện ảnh hay tại nhiều địa phương cho thấy, nơi nào đi đầu số hóa cũng đồng thời đối mặt với tình trạng hạ tầng thiếu đồng bộ, dữ liệu phân tán, phần mềm chưa tương thích, thiếu kinh phí duy trì và nâng cấp. Theo đại biểu, nếu quy định chỉ dừng ở mức “ưu tiên đầu tư” mà không gắn với cơ chế phân bổ nguồn lực cụ thể thì khó tạo chuyển biến thực chất.
Tiếp đó, thiếu hụt nhân lực số đang trở thành “điểm nghẽn” mang tính chiến lược. Dù nhắc nhiều đến trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, an ninh mạng hay sáng tạo nội dung số, nhưng lực lượng nhân sự có khả năng triển khai trong khu vực công, đặc biệt trong ngành văn hóa, vẫn rất hạn chế. Không chỉ thiếu về số lượng, mà còn thiếu nhân lực có chiều sâu về công nghệ như AI, dữ liệu, điện toán đám mây hay an ninh mạng. Trong khi đó, cơ chế đãi ngộ của khu vực công chưa đủ sức cạnh tranh với khu vực tư nhân. Đại biểu cho rằng, nếu không xác định rõ nhóm nhân lực trọng điểm và có cơ chế thu hút phù hợp thì sẽ chưa giải quyết trúng gốc rễ của vấn đề.
Bên cạnh đó, nguồn lực đầu tư từ ngân sách cho văn hóa nhìn chung vẫn còn hạn chế. Quy định bảo đảm tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước cho văn hóa là cần thiết, nhưng theo đại biểu, chưa đủ. Điều quan trọng là cơ cấu phân bổ nguồn lực này: bao nhiêu dành cho thiết chế cơ sở, bao nhiêu cho bảo tồn di sản, chuyển đổi số, an ninh văn hóa số hay đào tạo nhân lực. Nếu không làm rõ, có thể đạt chỉ tiêu về tổng chi nhưng không đạt hiệu quả chiến lược.
Cần cơ chế đủ đột phá, đủ cụ thể, đủ khả thi
Từ thực tế trên, đại biểu Trần Văn Khải đề xuất sửa đổi, bổ sung một số nội dung quan trọng trong dự thảo Nghị quyết.
Thứ nhất, đối với quy định về ngân sách, ngoài việc bảo đảm mức sàn 2%, cần xác định rõ ưu tiên cho chuyển đổi số văn hóa, hạ tầng dữ liệu quốc gia, số hóa di sản, bảo quản số lâu dài và bảo đảm an ninh văn hóa số trong kế hoạch đầu tư công trung hạn và dự toán hằng năm.
Thứ hai, về nhân lực, cần bổ sung các nhóm trọng điểm như AI, dữ liệu lớn, bảo tồn số, công nghệ 3D/AR/VR/XR, quản trị bản quyền số, an ninh mạng và sáng tạo nội dung số. Đồng thời, cho phép áp dụng các cơ chế linh hoạt như đặt hàng đào tạo, hợp đồng chuyên gia, tuyển dụng theo dự án, chính sách học bổng và đồng tài trợ công - tư để hình thành đội ngũ nhân lực số cho lĩnh vực văn hóa.
Thứ ba, cần hoàn thiện quy định về dữ liệu và nền tảng số theo hướng xác định rõ chuẩn dữ liệu, trách nhiệm liên thông, cơ chế dùng chung nền tảng, yêu cầu về an ninh, an toàn và chủ quyền văn hóa số, cũng như xây dựng bộ chỉ số đánh giá thực hiện. Đại biểu cũng đề nghị luật hóa mục tiêu hoàn thành số hóa 100% di sản văn hóa đã được xếp hạng cấp quốc gia và cấp quốc gia đặc biệt vào năm 2026.
Bên cạnh đó, đối với cơ chế tài chính và quỹ hỗ trợ, cần quy định cụ thể tiêu chí, định mức, phương thức nghiệm thu và cơ chế thanh toán khi phát sinh rủi ro khách quan trong khoán chi. Đồng thời, Quỹ văn hóa, nghệ thuật cần được thiết kế trở thành công cụ thúc đẩy đổi mới sáng tạo, có thể đầu tư cho các mô hình công nghệ văn hóa, nhưng phải bảo đảm quản trị chặt chẽ, minh bạch, tránh phát sinh rủi ro.
Theo đại biểu Trần Văn Khải, nếu chỉ dừng ở việc ban hành Nghị quyết mang tính khẳng định quyết tâm chính trị thì mới đi được “nửa chặng đường”. Phần còn lại là phải xây dựng được các cơ chế đủ mạnh, đủ cụ thể và đủ khả thi để đưa văn hóa ra khỏi tình trạng “đúng nhưng khó làm”, “muốn làm nhưng thiếu nguồn lực”, “có mục tiêu nhưng thiếu công cụ”.
Do đó, dự thảo Nghị quyết cần chuyển từ việc “khẳng định chính sách” sang “thiết kế cơ chế thực thi”, với ba trụ cột then chốt là nguồn lực tài chính đủ mạnh, nhân lực số đủ sâu và hạ tầng dữ liệu – nền tảng – an ninh văn hóa số đồng bộ.
Đại biểu bày tỏ tin tưởng, nếu được hoàn thiện theo hướng này, Nghị quyết không chỉ góp phần bảo tồn di sản, phát triển văn hóa con người Việt Nam mà còn tạo dựng được hệ sinh thái văn hóa số hiện đại, an toàn, có khả năng cạnh tranh quốc tế, đóng góp vào tăng trưởng và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia trong giai đoạn tới.