Theo Nghị quyết, tổng số thu ngân sách trung ương là 1.225.356 tỷ đồng; tổng số chi ngân sách trung ương là 1.809.056 tỷ đồng, trong đó dự toán 238.421 tỷ đồng để bổ sung cân đối ngân sách địa phương, 53.554 tỷ đồng bổ sung cho các địa phương bảo đảm thực hiện mức lương cơ sở 2,34 triệu đồng/tháng và 187.175 tỷ đồng bổ sung có mục tiêu cho ngân sách địa phương.
Quốc hội quyết nghị kéo dài thời kỳ ổn định ngân sách nhà nước giai đoạn 2022–2025 sang năm 2026; thực hiện phân chia các khoản thu giữa trung ương và địa phương, bao gồm nguồn thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước và thuế bảo vệ môi trường đối với sản phẩm xăng, dầu như năm 2025. Riêng thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất được thực hiện theo quy định tại Luật Ngân sách nhà nước số 89/2025/QH15.
Quốc hội tiếp tục thực hiện nguyên tắc hỗ trợ từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương nhằm triển khai các chính sách an sinh xã hội do trung ương ban hành của giai đoạn 2022–2025. Các địa phương nhận bổ sung cân đối từ ngân sách trung ương và các địa phương có tỷ lệ điều tiết các khoản thu phân chia về ngân sách trung ương được xác định trên cơ sở dự toán năm 2025 sau sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh. Số bổ sung cân đối tăng thêm 3% so với dự toán năm 2025 để các địa phương có thêm nguồn lực đáp ứng nhiệm vụ chi quan trọng phát sinh trong năm kéo dài thời kỳ ổn định ngân sách.
Nghị quyết điều chỉnh tăng 319 tỷ đồng cho ngân sách tỉnh Khánh Hòa để thực hiện Nghị quyết số 227/2025/QH15 của Quốc hội và bổ sung 168 tỷ đồng cho tỉnh Quảng Ngãi nhằm bảo đảm mặt bằng dự toán chi thường xuyên năm 2026 sau điều tiết số thu tiền thuê đất về ngân sách trung ương.
Đối với các cơ quan, đơn vị hành chính nhà nước trung ương trước đây được áp dụng cơ chế tài chính, thu nhập đặc thù theo Nghị quyết 104/2023/QH15 và 142/2024/QH15 nhưng chưa được giao biên chế công chức (trừ Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam), Nghị quyết cho phép bố trí tiền lương, các khoản đóng góp, thu nhập tăng thêm và kinh phí chi thường xuyên theo định mức đối với số lượng biên chế này theo Báo cáo số 56/BC-CP ngày 16/10/2025 của Chính phủ.
Nghị quyết dành 15.000 tỷ đồng dự phòng để bảo đảm an toàn, an ninh tài chính quốc gia trong trường hợp kinh tế – xã hội biến động, thu ngân sách không đạt dự toán; giao Chính phủ chủ động điều hành, bảo đảm hạn chế ảnh hưởng tới các nhiệm vụ chi đã được dự toán. Trường hợp thu ngân sách đạt và vượt kế hoạch, việc phân bổ thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước.
Quốc hội bố trí 10.000 tỷ đồng chi thường xuyên để triển khai các Chương trình mục tiêu quốc gia, bảo đảm không trùng lặp giữa các chương trình, nhiệm vụ chi khác; phù hợp tiến độ thực hiện và khả năng giải ngân. Nghị quyết yêu cầu bảo đảm mức tối thiểu 3% tổng chi ngân sách nhà nước cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và thực hiện phân bổ theo Báo cáo số 56/BC-CP ngày 16/10/2025 của Chính phủ.
Ngân sách trung ương dành nguồn để thực hiện điều chỉnh tiền lương, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng, trợ cấp ưu đãi người có công và một số chính sách xã hội theo phương án do cấp có thẩm quyền quyết định.
Quốc hội giao Chính phủ tổ chức thực hiện phân bổ, giao nhiệm vụ thu – chi ngân sách nhà nước; mức phân bổ ngân sách trung ương cho từng bộ, cơ quan trung ương, từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương theo đúng Luật Ngân sách nhà nước và Nghị quyết của Quốc hội, đồng thời thông báo bằng văn bản đến Đoàn đại biểu Quốc hội từng tỉnh, thành.
Chính phủ chỉ đạo các bộ, cơ quan trung ương và địa phương phân bổ vốn đầu tư ngân sách nhà nước bảo đảm tập trung, có trọng tâm, trọng điểm, tuân thủ điều kiện và thứ tự ưu tiên theo Luật Đầu tư công và các Nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Nghị quyết yêu cầu bố trí đủ vốn cho các Chương trình mục tiêu quốc gia, các dự án quan trọng quốc gia, dự án đầu tư công đặc biệt, đầu tư công khẩn cấp, các dự án đã hoàn thành nhưng chưa bố trí đủ vốn; bố trí vốn đối ứng các dự án ODA, vay ưu đãi nước ngoài; phần vốn Nhà nước tham gia dự án PPP; vốn cho nhiệm vụ, dự án chuyển tiếp, chuẩn bị đầu tư, quy hoạch, hoàn trả vốn ứng trước, thanh toán nợ đọng xây dựng cơ bản; sau đó mới bố trí vốn cho các dự án khởi công mới đủ thủ tục đầu tư.
Nghị quyết yêu cầu siết chặt kỷ cương, kỷ luật tài chính, xử lý nghiêm trường hợp vi phạm, làm chậm tiến độ giao vốn, thực hiện và giải ngân; cá thể hóa trách nhiệm người đứng đầu trong trường hợp chậm thực hiện, chậm giải ngân vốn đầu tư công.
Chính phủ phân bổ, giải ngân kế hoạch vốn năm 2026 theo pháp luật về đầu tư công. Trong thời gian chưa ban hành kế hoạch đầu tư công trung hạn 2026–2030, ưu tiên bố trí vốn cho các nhiệm vụ, dự án đủ thủ tục đến ngày 31/12/2025, gồm các dự án chuyển tiếp từ giai đoạn 2021–2025; nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư, quy hoạch; các dự án, công trình quan trọng giai đoạn 2026–2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Văn kiện Đại hội XIV; các nhiệm vụ, dự án khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số phục vụ triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị.