Rời miền gió Lào, cô giáo Thao ngược núi 23 năm gieo chữ ở Dào San
(CLO) Cô giáo Trần Thị Thao, người con gái của vùng núi Nưa (quê hương của Bà Triệu) đầy nắng gió đã chọn một con đường mà ít ai dám bước, rời miền xuôi, lặng lẽ ngược lên Dào San, để trao gửi tuổi trẻ cho những bản làng cheo leo và những đứa trẻ dân tộc thiểu số còn bỡ ngỡ với con chữ.
23 năm trôi qua, sương núi, dốc đá, gió rừng và những nếp nhà xa khuất trong mây chẳng còn là khung cảnh bên ngoài nữa; chúng đã hòa vào nhịp thở, ăn sâu vào mạch sống, trở thành một phần máu thịt của cô, thứ máu thịt mà không nơi nào khác có thể tách rời.
Hơn hai thập kỷ, cô Thao đã biến căn phòng nhỏ giữa rẻo cao thành một mái ấm đúng nghĩa; biến nỗi sợ đơn độc thuở ban đầu thành nguồn lực để mỗi sớm mai mỉm cười khi nghe tiếng trẻ thơ vang lên: “Con chào cô!”.
Hành trình của cô là minh chứng lặng lẽ nhưng mạnh mẽ cho tình yêu nghề và sức bền của một trái tim dành trọn cho giáo dục nơi mọi nhọc nhằn, thậm chí cả những lúc đau yếu thể xác khi trái nắng trở trời, đều tan biến mỗi khi cánh cửa lớp học mở ra.
Trọn thanh xuân miền “rốn khó” của Tây Bắc
Con đường dẫn lên xã Dào San (tỉnh Lai Châu) quanh co như một dải lụa xám vắt giữa lưng chừng núi, lúc nào cũng bị sương mờ phủ kín như muốn che đi cả những nhọc nhằn phía sau. Nơi được mệnh danh là “rốn khó” của miền Tây Bắc ấy, có một cô giáo trẻ đã lặng lẽ ở lại, dùng trọn thanh xuân để gieo những hạt mầm tri thức và nâng đỡ những ước mơ chưa kịp gọi thành tên. Đó là cô giáo Trần Thị Thao, hiện công tác tại Trường Phổ thông Dân tộc Bán trú Tiểu học Dào San.
Năm 2025, cô Thao là một trong 80 thầy cô giáo trên cả nước được vinh danh trong chương trình ý nghĩa “Chia sẻ cùng thầy cô”. Nhưng với cô, niềm hạnh phúc không chỉ nằm ở tấm bằng ghi nhận.
“Tôi không nghĩ câu chuyện của mình lại được biết đến. Ở vùng cao, còn nhiều thầy cô vất vả hơn tôi rất nhiều. Nhưng được tôn vinh khiến tôi cảm thấy ấm lòng. Tôi biết rằng những người thầy ở vùng sâu, vùng xa… chúng tôi chưa bao giờ đơn độc. Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến đồng nghiệp, học trò và phụ huynh Trường PTDTBT Tiểu học Dào San, những người đã luôn bên cạnh, sẻ chia và tiếp thêm động lực cho tôi trong hành trình gieo chữ giữa vùng cao đầy thử thách”, cô Thao nói bằng giọng đầy cảm xúc nhẹ nhàng như gió núi.
23 năm trước, vào năm 2002, cô gái trẻ đặt chân lên Dào San với tấm bằng sư phạm còn thơm mùi giấy mới và một ước mơ giản dị: trở thành cô giáo nơi vùng cao. Giữa miền sương gió, cô bắt đầu những tháng ngày tự mình bồi đắp bản lĩnh, đối diện với những thử thách khắc nghiệt mà lúc rời quê, cô chưa từng hình dung nổi.
Gió lốc, mưa đá, những nỗi cô đơn và bữa cơm gói lá chuối… tất cả đã trở thành những ký ức không thể quên trong những ngày đầu tiên cô Thao bám bản. Giai đoạn ấy, công việc đối với cô giống như một thử thách lớn nhất, dường như thách thức mọi ý chí và niềm tin của cô gái trẻ vừa rời ghế nhà trường.
“Tôi đã trải qua giai đoạn vô cùng khó khăn, có lúc tưởng chừng không còn đủ sức để bước tiếp”, cô Thao kể, giọng trầm lắng. Khó khăn không chỉ nằm ở vật chất thiếu thốn, ở những đêm rét cắt da hay tiếng mưa đá giằng xé trên mái nhà lợp cỏ gianh, mà còn ở sự cô độc giữa núi rừng heo hút và rào cản ngôn ngữ với người dân địa phương. Đỉnh điểm của sự chán nản là khi mái nhà điểm trường Dềnh Sang bị gió lốc và mưa đá thổi bay. Cô đã nghĩ đến việc chuyển trường, tự hỏi liệu mình có đủ sức gắn bó hay không.
“Ban ngày, tôi cố gắng không nghĩ đến điều đó, nhưng mỗi tối, ngồi soạn bài dưới ánh đèn dầu leo lét, lòng tôi đầy chán nản”, cô nhớ lại.
Thế nhưng, chính những đứa trẻ vùng cao đã trở thành động lực để cô không bỏ cuộc. Sáng hôm sau cơn bão đi qua, cô Thao bước vào lớp với tâm trạng còn hoang mang, thì những gương mặt nhỏ bé, rạng rỡ, đã hiện diện trước mắt. Mỗi em mang theo một nắm cơm gói trong lá chuối, thêm chút muối ớt giã cùng gừng tươi.
“Các em nói: ‘Con mời cô ăn cơm’,” cô Thao kể, ánh mắt rưng rưng. Bữa cơm giản dị ấy, với chút lạc rang cô mang theo, trở thành một khoảnh khắc thiêng liêng: cô và trò cùng chia sẻ, cùng cười, cùng cảm nhận sự ấm áp giữa núi rừng heo hút. Đó cũng là khoảnh khắc cô Thao cảm thấy một “lời thề không thể phá vỡ” đã hình thành trong trái tim mình – niềm quyết tâm bám bản, bám lớp.
Từ bữa cơm nho nhỏ ấy, mọi ý định chuyển trường dần biến mất. Niềm vui của cô đến từ những điều giản dị nhưng đầy sức mạnh: mỗi ngày các em biết thêm một chút, từng chữ cái “a”, “o” đầu tiên, rồi những câu nói ngập ngừng nhưng dần dần tự tin hơn khi giao tiếp với cô. Ngày qua ngày, từng nét chữ, từng ánh mắt học trò đã len vào trái tim cô, khiến cô yêu mảnh đất này hơn, yêu thương những đứa trẻ hơn, và nhận ra rằng chính nơi núi rừng xa xôi này, cô đã tìm thấy lý do để gắn bó trọn đời với nghề.
23 năm đơn độc và những vết thương thầm lặng
Hai mươi ba năm gắn bó với mảnh đất Dào San, cuộc sống riêng của cô Thao gói gọn trong hai chữ “đơn độc”. Gia đình cô ở xa, còn chồng cô làm việc tận Quảng Ninh, quanh năm cô sống một mình giữa núi rừng heo hút. Chồng chỉ có thể về thăm hai lần trong năm, dịp Tết và hè.
Những nỗi cô đơn ấy, thay vì khiến cô gục ngã, lại được bồi đắp bằng tình yêu thương vô bờ bến dành cho học trò – những đứa trẻ cô coi như con, những mầm non đang chập chững bước vào đời.
Con đường gieo chữ nơi rẻo cao không chỉ thử thách tinh thần mà còn là hiểm nguy luôn rình rập. Một lần, trên đường vào bản Hà Nhì, cô không may ngã xuống vực, gãy ba xương sườn và mới phát hiện mình bị cao huyết áp.
“Mỗi khi trời lạnh, vết thương lại đau, nhưng chỉ cần bước vào lớp, nhìn học trò đồng thanh cất tiếng “Con chào cô !”, nhìn ánh mắt tin tưởng của chúng hướng vào cô giáo như chờ đợi một điều mới mẻ cô sắp mang đến cho mình, tự nhiên mọi nỗi buồn phiền, mệt mỏi lại tan biến hết,” cô Thao nói, giọng cười nhẹ nhàng nhưng chắc nịch.
Chấp nhận sống xa chồng, xa gia đình, cô tìm thấy niềm vui trong công việc. Cô tự nhận mình “yêu nghề” đến mức không còn thời gian cho nỗi buồn. Mỗi khi bước vào lớp, mọi mệt nhọc và khó khăn như tan biến, chỉ còn lại những gương mặt nhỏ đang háo hức đón nhận từng con chữ.
Kỷ niệm về Lý A Ky
Trong suốt 15 năm bám bản, cô Thao đã công tác tại nhiều điểm trường lẻ, có bản ở một năm, có bản tới ba năm. Hầu hết những bản khó khăn nhất đều được cô đặt chân đến. Và trong vô số kỷ niệm, câu chuyện về em Lý A Ky vẫn in sâu trong tâm trí cô.
A Ky, học sinh lớp 5 ở bản Sểnh Sảng B, một bản xa xôi từng khóc nức nở vì bị gia đình ép bỏ học để đi lấy vợ sớm. Khi biết chuyện, cô Thảo không chần chừ. Cô đến tận nhà vận động, nhưng ban đầu gia đình em kiên quyết từ chối. Bố em bảo: “Mẹ mất rồi thì phải bắt vợ cho Ky để có người làm nương chứ cô giáo!”
Cô Thao không bỏ cuộc. Mỗi ngày sau giờ học, cô lại vào bản trò chuyện, vận động phụ huynh. Đồng thời, cô xin nhà trường sắp xếp cho A Ky được ở nhờ trong một căn phòng nhỏ cạnh phòng cô. Cô và trò cùng ăn uống, học tập, chia sẻ những buổi tối bình dị nhưng chan chứa tình thầy trò.
Nhờ sự kiên trì ấy, A Ky tiếp tục đến trường và nay đã thành đạt, làm việc tại Malaysia. Một lần trở về thăm bản, em nhận ra cô Thao, chạy đi mua hai gói mì tôm mời cô ăn sáng. Hành động giản dị ấy, với cô, là minh chứng sống động cho câu nói: “Cứ cứu một đứa trẻ, là cứu cả một tương lai.”
Sau 23 năm gắn bó, cô Thao không xem bằng khen hay danh hiệu là mục tiêu phấn đấu. Cô đã nhận nhiều giấy khen từ các cấp ngành, nhưng với cô, đó chỉ là sự ghi nhận cho sự tận tâm bền bỉ.
Thành công lớn nhất mà cô đạt được là sự tin yêu tuyệt đối của học sinh và lòng tín nhiệm của nhân dân địa phương. “Cứ nghe nói cô Thao dạy lớp nào, phụ huynh lại xin cho con vào lớp đó. Năm học 2022 cô đang dạy lớp 5A1 nhà trường phân công cô dạy lớp khác, nhưng phụ huynh đã gặp trực tiếp cô hiệu trưởng và cố gắng xin cho con họ tiếp tục được học cùng cô Thao .” cô nói. Niềm tin đó, theo cô, chính là di sản quý giá nhất mà cô để lại sau hơn hai thập kỷ gắn bó.
Cùng với niềm tin ấy là sự thay đổi rõ rệt của trường học. Từ những ngày điểm trường tạm bợ, nay Trường PTDTBT Tiểu học Dào San đã có nhà tầng khang trang, phòng máy tính, thiết bị học tập hiện đại. Nhờ đó, học sinh vùng cao, dù chưa từng ra phố, vẫn được trải nghiệm vẻ đẹp của đất nước thông qua màn hình máy chiếu.
Dù việc ứng dụng công nghệ là thách thức với nhiều giáo viên lớn tuổi, cô Thảo vẫn kiên trì học hỏi từ đồng nghiệp trẻ, tự nhủ rằng tiến bộ của học trò phải đi đôi với sự đổi mới của thầy cô.
Cô Thao không may mắn khi không có con ruột nhưng đã dành cả đời yêu thương cho hàng nghìn học sinh Dào San, là hình ảnh sống động nhất của người thầy Việt Nam: sống bằng ước mơ, vượt qua khó khăn, và gieo hy vọng bằng những bữa cơm gói trong lá chuối.
Lời nhắn nhủ của cô gửi tới đồng nghiệp trên cả nước giản dị mà sâu sắc: “Dù ở đâu miền núi, miền xuôi hay hải đảo chúng ta hãy luôn tận tâm với nghề. Ở đâu, các em học sinh cũng cần tri thức và sự chia sẻ của thầy cô.”
Ở Dào San, nơi núi cao sương giăng, câu chuyện của cô Thao vẫn tiếp tục, lặng lẽ nhưng mạnh mẽ, gieo những hạt mầm tri thức và hy vọng cho biết bao thế hệ trẻ vùng cao.
Bà Phạm Thị Xuân, Hiệu trưởng Trường PTDTBT Tiểu học Dào San, chia sẻ: “Trong mắt đồng nghiệp, cô Trần Thị Thao luôn là một tấm gương sáng về tinh thần trách nhiệm và tình yêu nghề. Nếu phải chọn hai từ để nói về cô Thao, thì đó chính là tâm huyết. Cô làm việc với tất cả sự tận tụy, hết lòng vì học trò. Đến mức, dù sang năm đã đến tuổi nghỉ hưu, cô vẫn tha thiết xin tiếp tục được đứng lớp, được làm giáo viên chủ nhiệm".
Theo bà Xuân, cô Thao còn là một trong những giáo viên tích cực nhất trong các phong trào thi đua và hoạt động chuyên môn của nhà trường. Cô chủ động học hỏi, nhất là từ các đồng nghiệp trẻ, để cập nhật phương pháp giảng dạy, ứng dụng công nghệ và thiết bị mới vào bài dạy. Ở cô, tinh thần cầu thị và ngọn lửa yêu nghề dường như chưa bao giờ vơi đi.
"Nếu phải chọn hai từ để nói về cô Thao, thì đó chính là tâm huyết"
Nhà giáo Phạm Thị Xuân, Hiệu trưởng Trường PTDTBT Tiểu học Dào San.