Giải kiến tạo - tránh những quan niệm đã thành lối mòn
Đứng trước sức ép của tiến trình đô thị hóa, làm thế nào để không gian di sản, nơi trú ngụ ký ức của cộng đồng được bảo tồn bền vững? Giữ lại hay thay đổi một công trình, và nếu thay đổi thì đến đâu, luôn là bài toán khó trong quá trình phát triển đô thị. Nhưng trước khi tìm lời giải cho bài toán ấy, cần nhìn lại một câu hỏi căn bản hơn: Chúng ta đang hiểu và nhìn nhận di sản như thế nào?
Tại tọa đàm “Tái nhận thức ý niệm di sản: Từ giải kiến tạo đến kiến tạo bền vững”, vừa diễn ra tại Hà Nội, các diễn giả gợi mở một cách tiếp cận khác: di sản không chỉ nằm trong hình hài vật chất mà còn hiện diện trong ký ức, môi trường và đời sống con người.
Theo KTS, họa sĩ Vũ Hiệp, “giải kiến tạo” không nên được hiểu đơn giản là phá bỏ hay phủ nhận những gì đã có. Điều quan trọng là chất vấn những quan niệm tưởng như hiển nhiên: Công trình cũ có nhất thiết phải nhường chỗ cho công trình mới; giá trị di sản sẽ chỉ được xác định bằng tuổi đời, hình thức kiến trúc hay sự công nhận chính thức và bảo tồn có đồng nghĩa với giữ nguyên trạng hay không?
Những câu hỏi này đặc biệt đáng chú ý với các công trình thuộc những giai đoạn lịch sử chưa quá xa. Theo ông Hiệp, kiến trúc thời bao cấp và đầu thời kỳ Đổi mới có thể chưa được nhìn nhận như di sản, nhưng vẫn lưu giữ dấu ấn của một thời kỳ phát triển đô thị và trải nghiệm chung của nhiều thế hệ.
Dẫn trường hợp ở Nga, một công trình căng tin công cộng thời Liên Xô được kiến trúc sư Rem Koolhaas chuyển đổi thành không gian nghệ thuật đương đại, đồng thời giữ lại dấu vết cấu trúc cũ, KTS Vũ Hiệp cho rằng, vấn đề không còn đơn thuần là lựa chọn giữa bảo tồn và phát triển. Điều quan trọng hơn, cần xác định giá trị nào cần được giữ lại, yếu tố nào có thể thay đổi và sự thay đổi ấy nên diễn ra như thế nào để quá khứ không bị “cắt đứt” khỏi hiện tại.
“Công trình không nhất thiết phải bị đóng khung trong công năng ban đầu hoặc bị xóa bỏ để thích ứng với nhu cầu mới. Những lớp ký ức vật chất có thể tiếp tục tồn tại trong một đời sống khác”, KTS Vũ Hiệp cho biết.
Mở rộng phạm vi nhận diện di sản sang đời sống xã hội và sinh thái, qua các trường hợp khu tập thể Hà Nội, ThS.KTS Nguyễn Mạnh Tuấn cho rằng giá trị của không gian đô thị không chỉ nằm ở hình thức vật chất của những tòa nhà. Thực tế là qua nhiều năm, ở các khu tập thể hình thành những mối quan hệ láng giềng, không gian sinh hoạt chung và các hình thức tương trợ cộng đồng. Sân tập thể là nơi diễn ra hoạt động chung, trong khi những thói quen và mạng lưới quan hệ của cư dân tạo nên một phần giá trị mà những bản vẽ quy hoạch không thể nào thể hiện đầy đủ.
Theo các diễn giả, những câu chuyện liên quan đến khu vực hồ Hoàn Kiếm, chùa Báo Ân và Bưu điện Hà Nội cũng đặt ra vấn đề về cách xác định giá trị của một địa điểm. Giá trị lịch sử, tính xác thực, đặc điểm kiến trúc và sự gắn bó của cộng đồng không phải lúc nào cũng dễ dàng thống nhất giữa các nhóm xã hội. Vì vậy, đánh giá di sản không thể chỉ dựa vào một tiêu chí, cũng không nên mặc định những gì chưa được công nhận chính thức thì không có giá trị.
Bài học cho Việt Nam: Hiểu đúng giá trị trước khi can thiệp
Khi di sản là một phần của đời sống đô thị thì thách thức là làm sao để không gian cũ tiếp tục được sử dụng, thích ứng với nhu cầu mới mà không đánh mất những giá trị cốt lõi.
Theo giám tuyển Hương Mi Lê, liên hoan nghệ thuật Manifesta tại châu Âu cho thấy cách tiếp cận gắn nghệ thuật đương đại với những đô thị đang đối mặt với các vấn đề tái thiết và xã hội. Tại Palermo (Italy) và Prishtina (Kosovo), các nhà tổ chức phối hợp với nhà quy hoạch, kiến trúc sư và người dân đưa những không gian bỏ hoang, nhà xưởng cũ hoặc khu vực ven đô vào đời sống văn hóa cộng đồng.
Những trường hợp này gợi ra một vấn đề quan trọng: Ai có quyền quyết định điều gì là di sản? Nếu giá trị của một nơi chốn được hình thành qua thời gian và cách con người sống cùng nó, cộng đồng cần được tham gia vào quá trình nhận diện giá trị, lựa chọn phương án chuyển đổi và xác định cách sử dụng không gian trong tương lai.
Tuy nhiên, kinh nghiệm quốc tế không thể được áp dụng nguyên vẹn vào Việt Nam. Theo ThS. KTS Nguyễn Mạnh Tuấn, kiến trúc Việt Nam có những đặc điểm khác biệt. Nếu nhiều công trình công cộng phương Tây có quy mô lớn, sử dụng vật liệu đá, thì kiến trúc Việt Nam thường gần gũi với con người hơn; chẳng hạn đình, chùa sử dụng nhiều vật liệu gỗ, với đặc điểm tồn tại khác biệt. Vì thế, “giải kiến tạo” không phải là phá bỏ cấu trúc hiện hữu, mà là nhận diện những giá trị và sự vận động bên trong để tìm cách ứng xử phù hợp.
“Nhịp điệu sống ở Việt Nam rất khác với nhịp sống ở phương Tây khi người dân có thể cơi nới ban công hay tự tạo cho cộng đồng những mảng không gian xanh. Thực tế này cho thấy có những thứ tự thân nó vận động và tự giải kiến tạo rồi. Vì vậy, cách ứng xử chắc chắn sẽ khác”, ông Nguyễn Mạnh Tuấn cho hay.
Từ góc nhìn này, ông lưu ý sự thiếu phù hợp có thể nảy sinh khi đưa hình thức kiến trúc phương Tây vào không gian đô thị Việt Nam mà không tính đến bối cảnh. Chẳng hạn, việc đặt một công trình mang dáng dấp Khải Hoàn Môn vào khu vực hồ Gươm, nơi có nhịp điệu sống đậm đặc chất người Việt là điều cần cân nhắc.
Còn theo giám tuyển Hương Mi Lê, câu chuyện Complex 01 ở Hà Nội là một ví dụ về khả năng chuyển đổi công năng công trình cũ. Nơi đây vốn là nhà máy in Công đoàn, sau thời gian dài bỏ hoang đã được chuyển đổi thành không gian sáng tạo. Công trình tìm được đời sống mới nhờ kết nối với các hoạt động văn hóa, nghệ thuật và nhu cầu sử dụng cụ thể.
Từ trường hợp này, giám tuyển Hương Mi Lê cho rằng, vấn đề không phải là nhân rộng một mô hình có sẵn, mà là xác định công trình nào có khả năng thích ứng, giá trị nào cần giữ lại và chức năng mới nào phù hợp. Không phải công trình cũ nào cũng nên trở thành không gian sáng tạo hay địa điểm thương mại. Mỗi phương án cần xuất phát từ đặc điểm kiến trúc, lịch sử, môi trường xung quanh và nhu cầu của cộng đồng.
Theo KTS Vũ Hiệp, những gợi mở trên cho thấy trước khi cải tạo hoặc tái thiết, cần đánh giá đồng thời tình trạng công trình, giá trị kiến trúc, lịch sử, ký ức cư dân và các mối quan hệ xã hội đã hình thành. Trong quá trình xem xét khả năng cải tạo, tái sử dụng, phá bỏ hay xây mới, cần tạo điều kiện để cộng đồng tham gia thực chất vào quá trình ra quyết định.
“Điều này không có nghĩa phải giữ lại mọi công trình cũ, mà là cần có cơ sở rõ ràng để xác định phần nào cần bảo tồn, phần nào có thể thay đổi và phương án nào phù hợp. Phạm vi nhận diện di sản cũng cần vượt ra ngoài những công trình đã được công nhận chính thức, bởi cây xanh lâu năm, không gian công cộng và sinh hoạt cộng đồng đều có thể góp phần tạo nên bản sắc đô thị”, KTS Vũ Hiệp chia sẻ.
Theo ông Hiệp, “kiến tạo bền vững” vì thế không có nghĩa quay lưng với phát triển, cũng không phải giữ nguyên mọi dấu vết quá khứ. Đó là quá trình lựa chọn có trách nhiệm, để những giá trị cần thiết được tiếp nối và những không gian cũ có thể tiếp tục sống trong thành phố hôm nay. Tương lai đô thị không chỉ được quyết định bởi những gì được xây dựng mới, mà còn bởi cách chúng ta hiểu, gìn giữ và phát huy những gì đã có.