Đề xuất lộ trình chi 2% ngân sách cho văn hóa, gắn với hiệu quả đầu ra
Ngày 20/4, thảo luận tại Tổ đối với dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đột phá phát triển văn hoá Việt Nam, Đại biểu Quốc hội Đoàn Thị Lê An (đoàn Cao Bằng) nhìn nhận: Quy định bảo đảm tối thiểu chi 2% ngân sách nhà nước cho văn hóa là tín hiệu tích cực, thể hiện sự chuyển biến trong nhận thức về vai trò của văn hóa. Tuy nhiên, nếu thiết kế theo hướng “cứng” sẽ dễ dẫn đến hình thức, thậm chí làm giảm hiệu quả sử dụng ngân sách.
Đại biểu Đoàn Thị Lê An cho rằng, vấn đề không chỉ là “chi bao nhiêu” mà quan trọng hơn là “chi như thế nào”. Từ thực tiễn địa phương, đặc biệt là các tỉnh miền núi có quy mô ngân sách nhỏ, nhu cầu chi lớn, việc áp dụng tỷ lệ cứng có thể gây áp lực lớn trong cân đối ngân sách.
Từ phân tích trên, nữ đại biểu Quốc hội đoàn Cao Bằng kiến nghị chuyển sang hướng “phấn đấu đạt khoảng 2% trong trung hạn”, có lộ trình phù hợp với từng địa phương. Đồng thời, gắn tỷ lệ chi với các chỉ tiêu đầu ra cụ thể như đóng góp của công nghiệp văn hóa, doanh thu du lịch văn hóa, số lượng doanh nghiệp sáng tạo. Ngân sách nhà nước cần đóng vai trò “vốn mồi”, kích hoạt nguồn lực xã hội.
Đại biểu cũng nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ “bảo tồn tĩnh” sang “bảo tồn sống”, đưa di sản vào đời sống, gắn với phát triển du lịch và sinh kế của người dân.
Góp ý kiến cho nội dung này, Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Sửu (đoàn TP. Huế) cho rằng, việc quy định tỷ lệ tối thiểu là cần thiết nhưng cần có cơ chế giám sát chặt chẽ để bảo đảm tỷ lệ này không chỉ là số liệu trên giấy mà thực sự được phân bổ và sử dụng hiệu quả trong thực tiễn.
Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Sửu nhấn mạnh, nên quy định rõ về cách tính toán và công khai tỷ lệ chi cho văn hóa; thiết lập cơ chế giám sát độc lập để bảo đảm chi đúng mục tiêu, đúng mục đích. Đại biểu cũng đề xuất liên kết việc chi ngân sách nhà nước cho văn hóa với các chỉ số phát triển bền vững, để đánh giá tác động xã hội.
Đề xuất cơ chế khai thông đất đai, tài sản công cho phát triển văn hóa
Bên cạnh đó, Đại biểu Nguyễn Thị Sửu cũng đánh giá, các ưu đãi về thuế và đất đai quy định tại Điều 4 và Điều 5 của dự thảo Nghị quyết là rất tích cực. Tuy nhiên, cần làm rõ tiêu chí để xác định các doanh nghiệp đủ điều kiện được hưởng ưu đãi hay không, qua đó, tạo sự minh bạch và tránh tình trạng lợi dụng chính sách để trốn thuế hoặc đầu tư hình thức.
Cùng quan tâm nội dung này, Đại biểu Quốc hội Phan Thị Thùy Linh (đoàn Thanh Hóa) cho rằng, phát triển văn hóa không phải để “làm đẹp” cho phát triển, mà là để tạo nền, giữ hồn và nâng tầm phát triển. Tinh thần quan trọng nhất của Nghị quyết là phải thực sự chuyển từ “xã hội hoá trên chủ trương” sang “ xã hội hoá bằng cơ chế cụ thể, có hiệu lực trong thực tế”.
Góp ý về những điều khoản cụ thể, Đại biểu Phan Thị Thùy Linh quan tâm đến Khoản 4 Điều 5 về đất đai và tài sản công, bởi đây chính là điểm nghẽn lớn nhất trong phát triển văn hóa hiện nay.
Theo đại biểu, chúng ta không thiếu nguồn lực, nhưng lại thiếu cơ chế để vận hành nguồn lực đó. Rất nhiều trụ sở công, rạp hát, nhà văn hóa, cơ sở sự nghiệp sau sắp xếp đang xuống cấp, sử dụng kém hiệu quả, thậm chí bị bỏ không, trong khi nhu cầu hưởng thụ văn hóa của người dân ngày càng cao và khu vực tư nhân hoàn toàn có khả năng tham gia đầu tư, khai thác. Tuy nhiên, quy định trong dự thảo Nghị quyết vẫn dừng ở mức nguyên tắc, chưa tạo được hành lang pháp lý đủ rõ và đủ mạnh để biến các tài sản này thành nguồn lực phát triển.
Từ phân tích trên, Đại biểu Quốc hội Phan Thị Thùy Linh đề nghị cần thiết kế cụ thể và trực diện hơn các cơ chế. Trong đó, nhấn mạnh 3 cơ chế sau:
Thứ nhất, cho phép cho thuê, liên doanh, liên kết và khai thác tài sản công trong lĩnh vực văn hóa theo cơ chế thị trường, có thời hạn, có điều kiện và có kiểm soát, bảo đảm vừa phát huy hiệu quả tài sản, vừa giữ được vai trò quản lý của Nhà nước.
Thứ hai, cho phép chuyển đổi công năng các trụ sở công dôi dư, cơ sở sử dụng kém hiệu quả thành thiết chế văn hóa, không gian sáng tạo, không gian sinh hoạt cộng đồng, gắn với nhu cầu thực tế của người dân và định hướng phát triển địa phương.
Thứ ba, cần quy định rõ và mạnh mẽ hơn về hợp tác công - tư trong lĩnh vực văn hóa, từ khâu đầu tư, xây dựng đến quản lý, vận hành, khai thác các công trình văn hóa, thể thao, bảo đảm minh bạch, cạnh tranh và hiệu quả.
Đại biểu Phan Thị Thùy Linh cho rằng, nếu không mở được cơ chế ở khâu này, thì tài sản vẫn nằm đó, nhưng không được khai thác; nguồn lực vẫn tồn tại, nhưng không chuyển hóa thành động lực phát triển. Đây là nội dung cần được làm rõ, làm cụ thể và làm mạnh nhất trong toàn bộ Nghị quyết này.
Bên cạnh đó, góp ý về Khoản 3 Điều 7 liên quan đến phụ cấp và chế độ bồi dưỡng, Đại biểu Phan Thị Thùy Linh cho rằng, cách thiết kế hiện nay vẫn theo tư duy “bình quân - hành chính”, chưa phù hợp với đặc thù sáng tạo. Đại biểu đề nghị nghiên cứu theo hướng: Tăng quyền chủ động cho đơn vị sự nghiệp công lập trong việc chi trả theo hiệu quả, chất lượng và đóng góp thực tế; cho phép đơn vị có nguồn thu hợp pháp được trả thù lao tương xứng với tài năng, thay vì bị khống chế “cứng” theo khung.
Đại biểu Phan Thị Thùy Linh tin tưởng, với những cơ chế trúng, đúng và mạnh, Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đột phá phát triển văn hoá Việt Nam sau khi được ban hành, không chỉ thể hiện quyết tâm chính trị mà còn thực sự đi vào cuộc sống. Từ đó, tạo sự lan toả, sức mạnh tinh thần cũng như trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển của đất nước trong giai đoạn tới.