Giá trị lao động sáng tạo được định lượng
Nghị định 287/2026/NĐ-CP lần đầu quy định tương đối cụ thể cơ chế xác định tiền bản quyền sáng tạo tác phẩm điện ảnh theo tỷ lệ phần trăm giá thành sản xuất, gắn với từng chức danh và loại hình phim.
Theo Luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng Văn phòng Luật sư Tinh thông Luật, điểm đáng chú ý là quy định tạo ra căn cứ định lượng rõ hơn trong xác định giá trị lao động sáng tạo. Đối với phim truyện, tỷ lệ tiền bản quyền đối với biên kịch từ 2,25% đến 2,75%; đạo diễn từ 2,5% đến 3%; đạo diễn hình ảnh từ 1,7% đến 2,1%. Một số chức danh sáng tạo khác cũng được xác định trong các khung tỷ lệ cụ thể.
“Giá trị sáng tạo của người làm nghề được đặt trong mối tương quan với quy mô đầu tư cho tác phẩm, qua đó tạo cơ sở hạn chế tình trạng tiền bản quyền bị xác định quá thấp so với công sức và giá trị sáng tạo thực tế”, Luật sư Diệp Năng Bình nhận định.
Tuy nhiên, ông lưu ý không nên hiểu mọi bộ phim đều mặc nhiên áp dụng các tỷ lệ này. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của Nghị định cần được xem xét trong từng trường hợp. Với các dự án sử dụng nguồn vốn khác, việc xác lập quyền, mức thù lao và cơ chế phân chia lợi ích vẫn cần căn cứ Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Điện ảnh và thỏa thuận hợp đồng.
Theo luật sư, giá trị của quy định mới không chỉ nằm ở các tỷ lệ cụ thể mà còn tạo chuẩn tham chiếu để người sáng tạo và nhà sản xuất có cơ sở đàm phán, xây dựng hợp đồng. Khi tiền bản quyền được tính theo tỷ lệ phần trăm giá thành sản xuất, việc xác định giá thành trở thành yếu tố trực tiếp ảnh hưởng đến quyền lợi người sáng tạo.
Nghị định 287/2026/NĐ-CP quy định giá thành sản xuất phim làm căn cứ tính tiền bản quyền không bao gồm chi phí bán hàng, chi phí quản lý và chi phí tài chính. Tuy nhiên, thực tế có thể phát sinh tranh chấp về khoản chi nào cấu thành giá thành sản xuất, chi phí vượt dự toán được xử lý ra sao, hoặc trường hợp chi phí thực tế chênh lệch lớn so với kinh phí được phê duyệt thì căn cứ vào số liệu nào.
Theo Luật sư Diệp Năng Bình, hợp đồng và hồ sơ dự án cần xác định rõ căn cứ tính giá thành, nguyên tắc cập nhật chi phí, chứng từ quyết toán và cơ chế cung cấp thông tin cho người hưởng tiền bản quyền.
“Về lâu dài, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế kiểm toán, quyết toán và xác nhận giá thành sản xuất để hạn chế khả năng số liệu về kinh phí trở thành ‘điểm mù’ trong quá trình xác định tiền bản quyền”, vị luật sư nói.
Làm rõ quyền lợi người sáng tạo ngay từ hợp đồng
Theo luật sư, hợp đồng giữa nhà sản xuất và người sáng tạo không nên chỉ xác định một khoản thù lao mà phải làm rõ quyền sở hữu quyền tác giả, phạm vi quyền được sử dụng hoặc chuyển giao và cơ chế thanh toán tương ứng với từng phương thức khai thác.
Các bên cần xác định chính xác chức danh sáng tạo, phạm vi công việc, mức độ đóng góp và trách nhiệm. Nếu nhiều người cùng đảm nhiệm một chức danh, cần thống nhất tỷ lệ hoặc phương thức phân chia tiền bản quyền.
Đặc biệt, hợp đồng cần quy định rõ phạm vi khai thác như phát hành tại rạp, truyền hình, nền tảng số, phát hành quốc tế, khai thác lại, làm tác phẩm phái sinh hoặc sử dụng trong quảng cáo, truyền thông.
Trong bối cảnh một bộ phim có thể được khai thác trên nhiều nền tảng trong thời gian dài, việc chỉ ghi chung nhà sản xuất được “chuyển giao toàn bộ quyền khai thác” có thể dẫn đến tranh chấp khi tác phẩm phát sinh nguồn thu mới.
Theo Luật sư Diệp Năng Bình, không phải cứ bộ phim được chiếu lại hoặc phát hành trên một nền tảng mới thì các chức danh sáng tạo đương nhiên được nhận thêm tiền. Quyền lợi cụ thể phụ thuộc vào quyền tác giả, quyền liên quan được bảo hộ, phạm vi chuyển giao hoặc cấp phép và thỏa thuận trong hợp đồng.
Nghị định 287/2026/NĐ-CP ghi nhận nhiều phương thức thanh toán tiền bản quyền, gồm thanh toán một lần, theo từng lần khai thác, định kỳ theo tháng, quý, năm hoặc phương thức khác do các bên thỏa thuận.
Nếu hợp đồng xác định khoản tiền đã trả là thanh toán trọn gói cho toàn bộ phạm vi khai thác thì về nguyên tắc phải tôn trọng thỏa thuận. Ngược lại, nếu có cơ chế chia doanh thu hoặc bổ sung tiền bản quyền khi doanh thu vượt ngưỡng, người sáng tạo có cơ sở yêu cầu thanh toán khi điều kiện phát sinh.
Chia sẻ giá trị theo vòng đời tác phẩm
Từ thực tế khai thác điện ảnh trên môi trường số, Luật sư Diệp Năng Bình cho rằng nên kết hợp khoản tiền tối thiểu bảo đảm với khoản tiền bản quyền biến đổi theo hiệu quả khai thác.
Theo đó, người sáng tạo nhận một khoản cố định khi hoàn thành tác phẩm và khoản bổ sung nếu doanh thu hoặc lợi nhuận vượt ngưỡng nhất định. Cách này vừa giúp nhà sản xuất kiểm soát rủi ro, vừa bảo đảm người sáng tạo được hưởng lợi khi tác phẩm tạo ra giá trị kinh tế lớn.
Để thực hiện, hợp đồng phải quy định rõ doanh thu được tính theo doanh thu gộp hay doanh thu thuần, khoản nào được khấu trừ, thời điểm xác định doanh thu, nghĩa vụ báo cáo và quyền kiểm tra, đối soát số liệu.
“Tiền bản quyền không chỉ nên được nhìn nhận như một khoản chi phí sản xuất mà cần được xem là cơ chế phân phối giá trị giữa người đầu tư và người sáng tạo”, Luật sư Diệp Năng Bình nhấn mạnh.
Theo ông, Nghị định 287/2026/NĐ-CP tạo ra bước tiến đáng ghi nhận khi đưa ra các tiêu chí và phương thức xác định, thanh toán tiền bản quyền cụ thể hơn. Tuy nhiên, để phù hợp với mô hình khai thác điện ảnh đa nền tảng, cần tiếp tục minh bạch hóa hợp đồng, giá thành sản xuất và doanh thu, đồng thời gắn quyền hưởng lợi của người sáng tạo với giá trị kinh tế mà tác phẩm thực sự tạo ra.
Qua đó, bảo vệ quyền tác giả không chỉ dừng ở việc xác lập quyền trên giấy tờ mà cần trở thành lợi ích kinh tế thực tế, tương xứng hơn với đóng góp của những người tạo nên tác phẩm.