Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam đang diễn ra với dự thảo văn kiện xác lập những định hướng chiến lược cho giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trong đó, lĩnh vực xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam tiếp tục được khẳng định là một trụ cột quan trọng, đồng thời bổ sung nhiều quan điểm, nội dung mới phù hợp với bối cảnh phát triển hiện nay.
Báo Nhà báo và Công luận đã có cuộc trao đổi với TS. Trần Hữu Sơn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Ứng dụng Văn hóa và Du lịch - một chuyên gia tâm huyết với văn hóa dân tộc - lắng nghe những kỳ vọng của ông về những quyết sách đột phá của Đại hội để hiện thực hóa mục tiêu chấn hưng văn hóa.
+ Thưa Tiến sĩ, trong các nhiệm kỳ gần đây, Đảng ta đã nhấn mạnh việc đặt văn hóa ngang hàng với kinh tế và chính trị. Tuy nhiên, việc hiện thực hóa bằng các nguồn lực tài chính và cơ chế cụ thể vẫn còn khoảng cách. Vậy ông kỳ vọng gì vào những quyết sách đột phá tại Đại hội XIV của Đảng để biến quan điểm này thành hiện thực?
- Tôi thực sự thấy đã có những tia hy vọng. Từ năm 1946, trong Hội nghị văn hóa toàn quốc, Bác Hồ có nói “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”. Vì thế, mới đây Bộ Chính trị lấy ngày đó là Ngày Văn hóa Việt Nam, người lao động được nghỉ như một ngày lễ. Đầu tiên, về nhận thức tôi thấy rằng như thế là cao hơn rồi, đó là điều rất tốt.
Thứ hai, từ năm 1998, sau Hội nghị Trung ương 5 (Khóa VIII), chúng ta đặt mục tiêu phấn đấu đến năm 2010 có 1,5 đến 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hoá, nhưng đến bây giờ vẫn chưa đạt được. Lần này, ngay trước thềm Đại hội Đảng, Nghị quyết 80 lại đặt mục tiêu này nhưng với mục tiêu, lộ trình và các điều kiện thực hiện được xác định rõ ràng hơn, thể chế hóa mạnh hơn.
+ Vậy theo ông, chúng ta có nên cụ thể hóa những quan điểm này bằng các định mức cụ thể trong đầu tư văn hóa?
- Tôi chưa được xem bản sửa cuối cùng của văn kiện Đại hội, trong đó có nói về các kế hoạch thực hiện. Nhưng tôi đang hy vọng sẽ có những kế hoạch ấy. Vì có kế hoạch thực hiện thì ta mới giải quyết được những khúc mắc thường thấy là Nghị quyết thì hay nhưng thực hiện lại “gay trăm bề” vì không có các giải pháp. Việc có một thể chế mạnh mẽ, tôi tin rằng chúng ta sẽ làm được.
+ Là một người gắn bó lâu năm với văn hóa dân gian, ông mong đợi Đại hội XIV của Đảng sẽ định hướng như thế nào để biến các giá trị văn hóa truyền thống thành nguồn lực kinh tế?
- Như trên tôi đã nói, rất mừng là chúng ta đã có nhận thức là văn hóa làm ra tiền chứ không chỉ tiêu tiền. Văn hóa làm ra kinh tế - đó là các ngành công nghiệp văn hóa, là điện ảnh, là âm nhạc, là làng nghề, là các di sản văn hóa ở Sa Pa, ở Hà Giang và rất nhiều nơi khác…
Nhưng còn một bộ phận chúng ta phải bao cấp, ví dụ các di sản, ví dụ các bảo tàng, như sách và thư viện… Nhưng ở một số tỉnh người ta bắt phải thu phí người đọc. Đó là quan điểm sai lầm, thư viện thu tiền thì còn ai đến đọc sách nữa.
Theo tôi, những bộ phận tự làm ra kinh tế được thì phải thu; nhưng những lĩnh vực chưa làm ra tiền mà rất cần cho xã hội thì phải coi như giáo dục, coi như y tế; phải được đầu tư. Một bộ phận văn hóa không làm ra tiền nhưng văn hóa làm thay đổi nhận thức con người, đó là điều quý hơn rất nhiều so với tiền.
Tôi nói ví dụ, bốn chục năm nay chúng ta không có ông Đặng Thái Sơn nào. Vì sao? Vì muốn có một người như ông ấy phải có những học viện âm nhạc danh tiếng để người ta theo học. Nhưng người có năng khiếu không có tiền để đi học, thậm chí cái nghề đó lại không nuôi sống người ta thì làm sao chúng ta có thể có những người như Đặng Thái Sơn được? Khi mở cửa, kinh tế thị trường vào, tất cả mọi thứ đều quy về tiền là không đúng nhưng văn hóa không có tiền thì cũng không được.
+ Sức mạnh của văn hóa nằm ở con người. Giới văn nghệ sĩ hiện nay đang mong chờ những thay đổi về cơ chế tự chủ, chính sách đãi ngộ và môi trường tự do sáng tạo. Theo ông, Đại hội XIV của Đảng nên có những thông điệp hoặc quyết sách gì để khích lệ các tài năng văn hóa cống hiến tối đa cho sự nghiệp chấn hưng văn hóa dân tộc?
- Tôi nghĩ Đảng ta sẽ có một số chính sách. Ví dụ, ta phải có chính sách cho nghệ nhân. Nghệ nhân bây giờ họ dạy không công, không có gì cả. Trong khi đó, bây giờ tìm nghệ nhân làm đàn tính, ở tất cả các tỉnh biên giới phía Bắc chưa chắc được 3-4 người, vì thế cần phải đầu tư cho họ. Đầu tiên, chúng ta cần có chính sách cho nghệ nhân, thứ hai là chính sách đào tạo tài năng. Tôi đọc trong dự thảo Nghị quyết, tôi thấy có những vấn đề đó, đấy là điều rất mừng khi Đảng ta đã nhìn thấy những gì là gốc rễ rồi.
+ Chúng ta đang đặt mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển vào năm 2050. Ông có kỳ vọng gì về một chiến lược quốc gia về sức mạnh mềm trong văn kiện Đại hội XIV, nhằm định vị lại giá trị văn hóa Việt Nam rõ nét hơn trên bản đồ thế giới?
- Tôi cho rằng điều này chúng ta có thể đạt được. Nhưng ta nên có một lộ trình, chẳng hạn bây giờ mời một số chuyên gia nghiên cứu những thành tố sức mạnh mềm nào chúng ta có thể đạt được trong 10-20 năm để chúng ta làm; có những sức mạnh mềm nào phải thực hiện trong 30-40 năm; rồi vấn đề chúng ta cần đầu tư gì…
Tôi nghĩ, chúng ta cần một lộ trình trên cơ sở khoa học chứ không thể vì là văn hóa nên cứ đại khái. Cái kiểu nói đại khái là cách nghĩ từ thế kỷ XX rồi, chúng ta không nên làm như vậy nữa.
Xin nói thêm, văn hóa Việt Nam cực kỳ độc đáo, cực kỳ hay. Tôi vừa tiếp hai nhà khoa học Pháp, tôi bảo các ông đi khắp thuộc địa của các ông có thấy nơi nào có nền hội họa độc đáo như mỹ thuật Đông Dương không? Không có. Rồi Thơ mới những năm 1930, từ thơ Đường luật và ảnh hưởng của thơ châu Âu, đều cực kỳ hay. Đó là nhờ tâm hồn người Việt Nam, trí tuệ người Việt Nam.
Rồi khi sang Úc, tôi thấy có người đội mũ đề chữ “Phở”, thế là người nước ngoài biết ngay đó là người Việt Nam. Những hình ảnh đó là biểu tượng bước đầu của sức mạnh mềm, nó tạo ra thương hiệu, tạo ra sức hút.
Văn hóa Việt Nam rất độc đáo ở ẩm thực, ở trang phục và nghệ thuật quân sự, nó tạo nên bản sắc và sức mạnh mềm của người Việt. Nhưng muốn điều đó thành hiện thực, chúng ta phải có nhà khoa học nghiên cứu, đi cùng với họ là những nhà kinh tế. Tôi xin nhắc lại câu nói của Bác Hồ: “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”. Rất nhiều câu nói của những nhà lãnh đạo, rất nhiều văn bản nói về văn hóa nhưng chẳng có câu nào hay bằng câu nói của Bác.
Cho nên, Bộ Chính trị thật sáng suốt khi chọn ngày Văn hóa Việt Nam chính là ngày Bác Hồ nói câu nói giá trị đó, càng ngẫm tôi lại càng thấy hay và thấm thía.
+ Xin cảm ơn ông!