Lợi thế tự nhiên không tự biến thành lợi thế cạnh tranh
Trong nhiều năm, câu chuyện phát triển kinh tế ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thường được bắt đầu từ việc xác định địa phương có thế mạnh gì. Đây là cách tiếp cận cần thiết, bởi mỗi vùng có điều kiện đất đai, khí hậu, tập quán sản xuất và nguồn tài nguyên khác nhau. Nhưng khi thị trường ngày càng đòi hỏi cao hơn về chất lượng, an toàn, nguồn gốc và khả năng cung ứng ổn định, việc “có sản vật” mới chỉ là điểm xuất phát.
Một vùng có cây quế nhưng nếu sản phẩm chủ yếu được bán dưới dạng nguyên liệu thô thì phần giá trị lớn hơn của quá trình chế biến vẫn nằm ở nơi khác. Một hộ trồng dong riềng có thể tạo ra củ dong tốt, nhưng nếu sản xuất miến vẫn phụ thuộc vào phơi nắng, chất lượng sản phẩm sẽ khó ổn định khi thời tiết thay đổi. Một vùng có dược liệu quý cũng chưa thể hình thành sinh kế bền vững nếu người dân chưa biết cách bảo tồn nguồn giống, kiểm soát chất lượng và xây dựng quy trình sản xuất phù hợp.
Vì thế, đưa khoa học, công nghệ vào vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi cần được hiểu từ những vấn đề rất cụ thể của sản xuất, từ giống cây, kỹ thuật canh tác, phòng trừ dịch bệnh đến sơ chế, bảo quản, chế biến và truy xuất nguồn gốc. Mỗi khâu được cải thiện sẽ quyết định khả năng giữ lại giá trị ở địa phương.
Định hướng này cũng phù hợp với mục tiêu của Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, trong đó khoa học, công nghệ và việc nâng cao năng lực sản xuất được đặt trong mối quan hệ với sinh kế, giảm nghèo và phát triển kinh tế ở địa bàn.
Từ một củ dong đến sản phẩm có thể đi xa
Câu chuyện sản xuất miến dong ở Bình Liêu, Quảng Ninh là một ví dụ khá rõ cho sự thay đổi ấy. Từ nguyên liệu quen thuộc với người dân địa phương, sản phẩm chỉ thực sự có thêm giá trị khi cách chế biến được thay đổi để đáp ứng yêu cầu của thị trường.
Công ty CP Thương mại và Dịch vụ Bình Liêu đã đầu tư dây chuyền sản xuất tinh bột và miến bán tự động, trong đó có công nghệ sấy thay cho phương thức phơi nắng truyền thống. Nhờ kiểm soát tốt hơn quá trình sản xuất, sản phẩm có chất lượng ổn định, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm và có thể duy trì sản xuất quanh năm, thay vì phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết. Miến dong Bình Liêu cũng được công nhận là sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu cấp quốc gia năm 2025.
Điều đáng nói ở đây không nằm ở một dây chuyền máy móc hiện đại, mà ở chỗ công nghệ đã giải quyết một điểm nghẽn vốn rất đời thường của sản xuất miền núi. Khi thời tiết không còn quyết định hoàn toàn việc phơi miến, doanh nghiệp có thể chủ động hơn về sản lượng và chất lượng; khi chất lượng ổn định, sản phẩm có điều kiện bước vào những thị trường đòi hỏi tiêu chuẩn cao hơn.
Cũng từ yêu cầu thực tế ấy, Quảng Ninh đã triển khai các nhiệm vụ khoa học và công nghệ liên quan đến những sản phẩm đặc trưng của địa phương như hồi, quế, dong riềng, chăn nuôi và xử lý nước thải trong sản xuất miến dong.
Cách làm này cho thấy khoa học, công nghệ chỉ thực sự có ý nghĩa khi tìm đúng bài toán mà người sản xuất đang gặp phải và tạo ra một thay đổi mà người dân, hợp tác xã hoặc doanh nghiệp có thể nhìn thấy trong hiệu quả sản xuất.
Từ một sản phẩm phải nghĩ đến cả cách tổ chức sản xuất
Một sản phẩm tốt khó có thể đi xa nếu phía sau nó vẫn là những hộ sản xuất nhỏ lẻ, thiếu liên kết và không có khả năng đáp ứng ổn định yêu cầu của thị trường. Vì vậy, khi nói đến ứng dụng khoa học, công nghệ ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vấn đề cần quan tâm không dừng ở việc đưa một kỹ thuật mới xuống cơ sở, mà phải tính đến việc kỹ thuật đó sẽ thay đổi cách tổ chức sản xuất như thế nào.
Thái Nguyên là một ví dụ. Theo thông tin của địa phương, trong tổng số 527 hợp tác xã nông nghiệp có 116 hợp tác xã nằm trên địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Việc đưa khoa học, công nghệ vào sản xuất được gắn với nâng cao chất lượng nông sản, phát triển sản phẩm OCOP và hình thành các liên kết theo chuỗi giá trị.
Đây là điểm cần được nhìn rộng hơn. Một kỹ thuật canh tác tốt giúp tăng năng suất cho một hộ; một quy trình sản xuất thống nhất giúp nhiều hộ tạo ra sản phẩm đồng đều; còn một mô hình liên kết giữa người dân, hợp tác xã, doanh nghiệp và thị trường có thể biến những cải tiến riêng lẻ thành năng lực sản xuất của cả một vùng.
Ở Tủa Chùa, Điện Biên, nguồn lực từ Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021-2025 được triển khai cùng với chuyển giao kỹ thuật và thay đổi phương thức sản xuất. Địa phương cho biết đã phát triển thêm 12 sản phẩm OCOP 3 sao, nâng tổng số sản phẩm OCOP lên 15, qua đó từng bước chuyển từ sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa và từ sản xuất phân tán sang liên kết theo chuỗi giá trị.
Công nghệ phải đi cùng khả năng của bản làng
Một trong những yêu cầu quan trọng khi đưa khoa học, công nghệ về vùng cao là lựa chọn công nghệ phù hợp với điều kiện thực tế. Một thiết bị hiện đại nhưng quá đắt, khó vận hành hoặc không có người bảo dưỡng tại chỗ sẽ khó tạo ra thay đổi lâu dài; ngược lại, một giải pháp vừa sức, dễ sử dụng, giải quyết đúng điểm nghẽn của sản xuất lại có thể tạo ra hiệu quả rất lớn.
Đây cũng là lý do câu chuyện khoa học, công nghệ cần được đặt cùng với đào tạo con người, củng cố hợp tác xã, nâng cao năng lực của doanh nghiệp địa phương và hình thành đội ngũ kỹ thuật ở cơ sở. Máy móc có thể đưa đến một bản làng trong một ngày, nhưng khả năng vận hành, bảo dưỡng, cải tiến và tổ chức sản xuất xoay quanh công nghệ ấy mới quyết định nó có ở lại được với người dân hay không.
Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những động lực quan trọng hàng đầu của phát triển, đồng thời nhấn mạnh vai trò của dữ liệu, hạ tầng, nhân lực và năng lực làm chủ công nghệ. Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, tinh thần ấy càng cần được cụ thể hóa bằng những bài toán sát với từng vùng sản xuất, từng sản phẩm và từng cộng đồng dân cư.
Suy cho cùng, mục tiêu của việc đưa khoa học, công nghệ về bản làng không phải để có thêm những thiết bị hiện đại hay những mô hình trình diễn đẹp mắt, mà để người dân có thể làm ra sản phẩm tốt hơn, ổn định hơn và bán được với giá trị cao hơn. Khi một củ dong có thể trở thành sản phẩm chế biến, khi cây quế có thêm những khâu tạo giá trị ở địa phương, khi một hợp tác xã đủ năng lực tổ chức nhiều hộ cùng sản xuất theo một tiêu chuẩn, lợi thế tự nhiên mới từng bước chuyển thành lợi thế kinh tế.
Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có thể có những sản vật mà nơi khác không có, nhưng để những sản vật ấy trở thành sinh kế bền vững, điều quyết định nằm ngày càng nhiều ở năng lực làm ra giá trị. Khoa học và công nghệ, nếu được lựa chọn đúng và đặt vào đúng nhu cầu của người dân, có thể bắt đầu từ một khâu rất nhỏ trong sản xuất nhưng tạo ra thay đổi lớn hơn cho cả một chuỗi giá trị.