Nhân dịp này, Tiến sĩ Đặng Vũ Cảnh Linh, Phó Viện trưởng Viện Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ và Nghiên cứu khoa học - Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có cuộc trao đổi với phóng viên về những thông điệp ý nghĩa trong bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại phiên họp này.
- Trong bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên thảo luận cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81, ông tâm đắc nhất với những nội dung nào?
+ Tôi thấy tâm đắc với 3 vấn đề Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đặt ra, có sự gắn bó rất chặt chẽ với nhau: bảo vệ hòa bình trên nền tảng tôn trọng độc lập, chủ quyền, thúc đẩy phát triển lấy con người làm trung tâm và củng cố tự chủ gắn với chủ động hợp tác quốc tế. Đặt trong tổng thể bài phát biểu, đó cũng là mối quan hệ giữa điều kiện phát triển, mục tiêu phát triển và năng lực thực hiện mục tiêu ấy.
Trước hết, bài phát biểu thể hiện rõ quan điểm sự kiên định về nguyên tắc và tinh thần đối thoại, hợp tác trong giải quyết những vấn đề quốc tế. Muốn có hòa bình bền vững thì độc lập, chủ quyền và lợi ích chính đáng của các quốc gia phải được tôn trọng. Đối thoại cần được duy trì ngay cả khi còn bất đồng, còn hợp tác phải được xây dựng trên cơ sở bình đẳng và tuân thủ luật pháp quốc tế.
Nội dung về Biển Đông được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu thể hiện rất rõ tinh thần đó. Việt Nam kiên trì giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, đồng thời kiên quyết bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mình. Hai yêu cầu ấy thống nhất với nhau, thể hiện trách nhiệm bảo vệ lợi ích quốc gia gắn với gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định và hợp tác của khu vực.
Thứ hai, từ góc nhìn lý luận, tôi đặc biệt tâm đắc với yêu cầu gắn tăng trưởng với tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường và sinh kế của người dân. Quan điểm này đặt ra thước đo thực chất cho phát triển: thành quả tăng trưởng phải mở rộng cơ hội sống, học tập, lao động và thụ hưởng của con người, nhất là những cộng đồng dễ bị tổn thương.
Chẳng hạn, một chương trình chuyển đổi năng lượng cần được đánh giá cả ở khả năng giảm phát thải lẫn việc người lao động có được đào tạo lại, có sinh kế thay thế và người dân có khả năng tiếp cận năng lượng với chi phí phù hợp hay không. Nếu thiếu những điều kiện ấy, chi phí của chuyển đổi có thể dồn vào chính những nhóm ít khả năng tự bảo vệ nhất. Vì vậy, công bằng xã hội cần được tính đến ngay trong thiết kế chính sách và quá trình tổ chức thực hiện.
Tôi cho rằng đây là sự nhất quán giữa quan điểm phát triển của Việt Nam với những đề xuất tại diễn đàn toàn cầu. Đặt con người ở vị trí trung tâm cũng có nghĩa là các cam kết về tài chính, thương mại, khí hậu hay công nghệ phải được xem xét từ tác động cuối cùng đối với đời sống người dân. Khoảng cách giữa một cam kết quốc tế và một cuộc sống tốt hơn cần được thu hẹp bằng nguồn lực, cơ chế thực hiện và trách nhiệm cụ thể.
Ngoài ra, tôi tâm đắc với cách bài phát biểu gắn tự chủ chiến lược với chủ động hội nhập và hợp tác bình đẳng. Việc Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc là một minh chứng cụ thể cho tinh thần ấy. Từ một đất nước từng nhận được sự hỗ trợ trong tái thiết và phát triển, Việt Nam ngày càng chủ động đóng góp nhân lực, kinh nghiệm và trách nhiệm vào công việc chung. Những cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ ở các địa bàn còn nhiều khó khăn đã đưa khát vọng hòa bình của dân tộc thành hành động thiết thực. Theo tôi, chính sự thống nhất giữa quan điểm và hành động làm nên sức thuyết phục của thông điệp Việt Nam.
- Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề cập trực tiếp đến khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo, trong đó nhấn mạnh chủ động định hình quản trị công nghệ để tiến bộ phục vụ con người và phát triển chung. Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?
+ Theo tôi, đây là nội dung có tầm nhìn chiến lược, nhất quán với định hướng phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng. Nội dung này được mở rộng, đặt sự phát triển công nghệ trong mối quan hệ chặt chẽ với bảo đảm chủ quyền quốc gia, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và trách nhiệm đối với tương lai con người. Khi công nghệ ngày càng tác động sâu rộng đến sản xuất, quản lý và đời sống, năng lực quản trị công nghệ trở thành một bộ phận quan trọng của năng lực quản trị quốc gia, đồng thời đặt ra yêu cầu tăng cường phối hợp và trách nhiệm chung trong quản trị toàn cầu.
Thực tế cần nhận thức là tiến bộ công nghệ không hoàn toàn tự động tạo ra công bằng xã hội. Cùng một thành tựu trí tuệ nhân tạo, quốc gia có hạ tầng tốt, có dữ liệu, nguồn nhân lực và năng lực nghiên cứu sẽ có điều kiện khai thác hiệu quả hơn. Những nước thiếu các điều kiện ấy có nguy cơ tiếp tục phụ thuộc, chủ yếu sử dụng sản phẩm do bên ngoài cung cấp và ít có khả năng tham gia quyết định các quy tắc chi phối mình. Ngay trong một xã hội, cơ hội thụ hưởng công nghệ cũng có thể có khoảng cách rất khác nhau giữa các nhóm dân cư.
Vì vậy, thể chế, chuẩn mực đạo đức và cơ chế giám sát có tính toàn cầu phải được xây dựng đồng thời với quá trình phát triển, ứng dụng công nghệ. Bài phát biểu cho thấy trong vấn đề này, trước hết, cần bảo đảm, bao trùm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Khi trí tuệ nhân tạo hỗ trợ tuyển dụng, đánh giá tín dụng hay cung cấp dịch vụ công, phải có cơ chế kiểm soát sai lệch, xem xét lại quyết định và xác định rõ trách nhiệm. Người dân cần được giải thích, phản ánh và bảo vệ khi quyền lợi bị ảnh hưởng. Cơ quan, doanh nghiệp và người vận hành không thể chuyển trách nhiệm của mình cho thuật toán.
Thứ hai, các nước đang phát triển phải được tham gia thực chất vào việc xây dựng các nguyên tắc, khuôn khổ quản trị công nghệ toàn cầu. Sự tham gia ấy cần gắn với khả năng đóng góp vào quyết định chung, đồng thời được hỗ trợ về hạ tầng, nhân lực và chuyển giao công nghệ. Đó là điều kiện để nâng cao năng lực tự chủ, thu hẹp khoảng cách và thụ hưởng công bằng hơn những thành quả phát triển.
Thứ ba, mục tiêu công nghệ phục vụ con người phải được thể hiện bằng lợi ích cụ thể trong đời sống. Dịch vụ công trực tuyến cần thuận tiện, có hỗ trợ người cao tuổi, người khuyết tật và người hạn chế kỹ năng số. Nếu số hóa khiến họ khó tiếp cận dịch vụ hơn thì mục tiêu phục vụ chưa đạt được. Tương tự, đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp phải đi cùng đào tạo lại, giúp người lao động thích ứng và có cơ hội phát triển.
Đối với Việt Nam, định hướng này gắn chặt với tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị: phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải đi cùng hoàn thiện thể chế, đầu tư cho con người và nâng cao năng lực làm chủ. Đội ngũ nhà khoa học, kỹ sư, trí thức trẻ cần được tạo điều kiện để chuyển năng lực sáng tạo thành những đóng góp thiết thực cho đất nước.
Việc tổ chức Lễ mở ký Công ước Liên hợp quốc về chống tội phạm mạng tại Hà Nội năm 2025 thể hiện sự chủ động của Việt Nam trong xây dựng môi trường số an toàn. Tinh thần ấy cần tiếp tục được phát huy trong hợp tác về trí tuệ nhân tạo, dữ liệu và các công nghệ mới.
Theo tôi, trong thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, giá trị sâu sắc của thông điệp là đặt trách nhiệm chính trị và trách nhiệm xã hội song hành với năng lực sáng tạo công nghệ, lấy con người làm trung tâm và mục tiêu của phát triển. Thước đo của tiến bộ công nghệ phải là sự tiến bộ trong đời sống con người, thể hiện ở năng lực được nâng cao, phẩm giá được bảo vệ, cơ hội được mở rộng và chất lượng sống được cải thiện.
- Theo ông, thông điệp nổi bật nhất trong bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên thảo luận cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81 là gì? Thông điệp đó có ý nghĩa như thế nào trong bối cảnh thế giới đang có nhiều biến động, cạnh tranh và bất định?
+ Theo tôi, thông điệp nổi bật nhất là các quốc gia cần cùng nhau chịu trách nhiệm định hướng sự thay đổi của thế giới theo con đường hòa bình, hợp tác và phát triển, trên nền tảng Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, vì lợi ích thiết thực của con người. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã đặt ra một vấn đề có ý nghĩa căn bản về lý luận: sự vận động, thay đổi của thế giới là khách quan, nhưng hướng đi của sự thay đổi ấy phụ thuộc rất lớn vào nhận thức, lựa chọn và hành động có trách nhiệm của các quốc gia. Điều đó đòi hỏi mỗi quốc gia phải gắn lợi ích chính đáng của mình với lợi ích chung của cộng đồng quốc tế, tôn trọng quyền và cơ hội phát triển của các dân tộc khác, cùng chịu trách nhiệm đối với hòa bình và sự phát triển bền vững của thế giới.
Thực tế quan điểm này mang tầm vóc cả về lý luận và thực tiễn trong bối cảnh sự chuyển dịch tương quan sức mạnh, cạnh tranh lợi ích hay khác biệt về thể chế, trình độ phát triển, hoàn toàn không phải là đích đến của mọi cuộc xung đột. Vấn đề nằm ở cách các quốc gia ứng xử với những khác biệt ấy, tôn trọng các nguyên tắc chung, duy trì đối thoại và thực hiện cam kết. Vì vậy, bài phát biểu vừa nhận diện khách quan, thẳng thắn những nguy cơ của tình hình quốc tế, vừa khẳng định khả năng và trách nhiệm và giải pháp cơ bản để các quốc gia ngăn ngừa đối đầu, cùng kiến tạo tương lai hòa bình.
Từ vị thế của một Việt Nam ngày càng chủ động đóng góp vào các nỗ lực gìn giữ hòa bình, thúc đẩy đối thoại và hợp tác quốc tế, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh yêu cầu khôi phục lòng tin trên cơ sở tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế là một luận điểm rất quan trọng, bởi lòng tin trong quan hệ quốc tế phải được bồi đắp bằng hành vi nhất quán, bằng sự tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và việc thực hiện đầy đủ những cam kết đã đưa ra. Khi các nguyên tắc chung bị áp dụng chọn lọc, sự nghi kỵ sẽ gia tăng, các quốc gia khó dự liệu hành động của nhau và hợp tác trở nên thiếu bền vững. Bởi vậy, khôi phục lòng tin phải gắn với củng cố nền tảng pháp lý và trách nhiệm tạo điều kiện để các quốc gia cùng giải quyết những vấn đề vượt quá khả năng của từng nước.
Bốn định hướng lớn trong bài phát biểu tạo thành một chỉnh thể thống nhất. Tôn trọng luật pháp quốc tế và khôi phục lòng tin là nền tảng cho hòa bình, hợp tác. Phát triển công bằng, nhân văn, bao trùm và bền vững góp phần khắc phục những bất bình đẳng làm sâu sắc thêm chia rẽ. Quản trị công nghệ có trách nhiệm giúp mở rộng cơ hội phát triển, đồng thời ngăn ngừa những nguy cơ và hình thức phụ thuộc mới. Củng cố chủ nghĩa đa phương và vai trò trung tâm của Liên hợp quốc là điều kiện để phối hợp các nỗ lực ấy thành hành động chung. Tất cả đều hướng tới mục tiêu bảo đảm mọi quốc gia có tiếng nói, mọi dân tộc có cơ hội phát triển và người dân được thụ hưởng những thành quả thực chất.
Trong bối cảnh hiện nay, thông điệp ấy thể hiện rõ bản lĩnh và đường lối đối ngoại nhất quán của Việt Nam: độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại. Từ trải nghiệm lịch sử của mình, Việt Nam hiểu sâu sắc rằng hòa bình phải được gìn giữ bằng nỗ lực bền bỉ, độc lập phải được củng cố bằng năng lực tự chủ, còn phát triển lâu dài cần một môi trường hợp tác ổn định. Vì thế, tiếng nói của Việt Nam tại Liên hợp quốc thể hiện sự gắn bó giữa lợi ích quốc gia, dân tộc với trách nhiệm đối với cộng đồng quốc tế, giữa khát vọng phát triển đất nước với mong muốn đóng góp cho một thế giới hòa bình, công bằng và tốt đẹp hơn.
Trân trọng cảm ơn ông!