Vì sao Hà Nội đề xuất cơ chế, chính sách sửa đổi Luật Thủ đô?

(CLO) Hà Nội đã chỉ ra nhiều khó khăn trong quá trình thực thi Luật Thủ đô hiện hành, đặc biệt là việc phân quyền và áp dụng cơ chế đặc thù. Đề xuất sửa đổi này không chỉ là bước đi quan trọng để giải quyết những vướng mắc trong thực tiễn mà còn mở ra cơ hội mới cho sự phát triển bền vững của Thành phố.

Tại kỳ họp thứ Ba mươi mốt, HĐND thành phố Hà Nội đã thông qua báo cáo đánh giá một năm thi hành Luật Thủ đô số 39/2024/QH15, đề xuất cơ chế, chính sách sửa đổi Luật Thủ đô.

Khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thi hành Luật Thủ đô

Theo báo cáo của UBND thành phố Hà Nội, tính đến nay đã có 69 văn bản triển khai Luật Thủ đô được ban hành. Trong đó, Thành phố đã ban hành 66 văn bản triển khai thi hành Luật Thủ đô, gồm 56 nghị quyết quy phạm pháp luật, 6 nghị quyết cá biệt của HĐND Thành phố, 3 quyết định quy phạm và 1 quyết định cá biệt của UBND Thành phố.

hn1.jpg
Hà Nội đề xuất cơ chế, chính sách sửa đổi Luật Thủ đô. Ảnh: Quang Hùng

Trong số văn bản đã ban hành, nhiều nghị quyết và quyết định có tác động sâu rộng đến mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của Thủ đô, như các quy định về công tác quản lý, phát triển đội ngũ công chức, viên chức, khai thác và quản lý các nguồn lực về đầu tư, tài sản công, đất đai, môi trường và các công trình văn hóa. Đặc biệt là các quy định về phát triển khoa học công nghệ. Hiện nay, các sở, ngành Thành phố tiếp tục nghiên cứu, xây dựng 38 văn bản để trình ban hành, đồng bộ với việc nghiên cứu xây dựng Luật Thủ đô sửa đổi.

Tuy nhiên, quá trình triển khai thi hành Luật Thủ đô và các văn bản quy định chi tiết vẫn còn tồn tại một số khó khăn, vướng mắc, hạn chế. Sau khi Luật Thủ đô được ban hành, nhiều văn bản luật khác đã sửa đổi, bổ sung và thay thế, kế thừa quy định của Luật Thủ đô và phát triển thành quy định thuận lợi, mạnh mẽ hơn về cùng một vấn đề, dẫn đến nhiều quy định trước đây là đặc thù theo Luật Thủ đô nay đã trở thành cơ chế chung của cả nước, từ đó ảnh hưởng đến quá trình xây dựng các văn bản triển khai thi hành Luật Thủ đô của Thành phố.

Đồng thời, với tinh thần cải cách và hoàn thiện thể chế mạnh mẽ, nhiều luật đã được sửa đổi và thay thế toàn diện, trong đó có những chính sách không chỉ tiếp thu mà còn vượt trội hơn so với Luật Thủ đô, như Luật Khoa học công nghệ, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Quản lý sử dụng tài sản công.

Việc sắp xếp lại các sở, ngành, đơn vị của Thành phố và việc thực hiện sắp xếp, thay đổi mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp có tác động lớn, làm thay đổi về tổ chức bộ máy, cơ chế phân quyền, phân cấp giữa các cấp chính quyền, cũng đang ảnh hưởng trực tiếp đến nội dung và tiến độ xây dựng các văn bản quy định chi tiết Luật Thủ đô.

Một số nghị quyết của HĐND Thành phố quy định theo mô hình cũ (phân định thẩm quyền cho cấp huyện), chưa kịp sửa đổi bổ sung, gây khó khăn, vướng mắc khi áp dụng tại cấp xã mới.

Mặc dù Luật Thủ đô đã trao thêm một số thẩm quyền cho Thành phố, nhưng thực tế mức độ phân quyền còn hạn chế, chưa tương xứng với vị trí, vai trò và yêu cầu quản trị của Thủ đô. Nhiều lĩnh vực quan trọng vẫn phải thực hiện theo khuôn khổ pháp luật chung, làm giảm tính chủ động, linh hoạt của chính quyền Thủ đô trong xử lý các vấn đề mới, phức tạp.

Mặt khác, Thủ đô chưa có đủ thẩm quyền để chủ động thử nghiệm các mô hình, cơ chế, chính sách mới, đặc biệt trong các lĩnh vực quản trị đô thị, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, dẫn đến chậm phản ứng chính sách trước yêu cầu thực tiễn.

Các vấn đề đô thị cốt lõi của Thủ đô như an toàn thực phẩm, môi trường, ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước, trật tự - an toàn đô thị đều mang tính liên ngành, liên cấp, liên vùng, song việc xử lý trên thực tế còn phân tán, thiếu thống nhất, hiệu quả chưa cao.

Luật Thủ đô hiện hành chưa trao đầy đủ thẩm quyền cho Thành phố trong việc áp dụng các biện pháp quản lý đặc thù, kịp thời, phù hợp với tính chất đô thị đặc biệt và yêu cầu bảo đảm trật tự, an toàn xã hội của Thủ đô.

Luật Thủ đô đã đề cập đến liên kết, phát triển vùng, nhưng các quy định hiện hành chưa xác lập rõ vai trò dẫn dắt, điều phối của Thủ đô, chủ yếu dừng ở mức nguyên tắc, thiếu cơ chế ràng buộc và thiết chế điều phối hiệu quả. Hệ quả là hiệu quả liên kết vùng còn hạn chế, vai trò trung tâm, hạt nhân phát triển của Thủ đô chưa được phát huy tương xứng với vị trí và trách nhiệm được giao.

Nguyên nhân của khó khăn, vướng mắc là Luật Thủ đô chưa được thiết kế như một "luật khung đặc thù ổn định lâu dài", có khả năng "neo giữ" các cơ chế vượt trội của Thủ đô trước sự thay đổi của pháp luật chung. Điều này dẫn đến việc nhiều quy định từng là đặc thù nhanh chóng bị "phổ quát hóa", làm mờ ranh giới giữa cơ chế riêng của Thủ đô và cơ chế chung, gây khó khăn trong việc lựa chọn, áp dụng pháp luật và ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình xây dựng văn bản triển khai thi hành Luật Thủ đô của Thành phố.

Các quy định trong Luật Thủ đô vẫn chịu ràng buộc bởi tư duy quản lý thống nhất theo pháp luật chung, chưa cho phép Thủ đô chủ động thí điểm, thử nghiệm các mô hình, cơ chế, chính sách mới, đặc biệt trong các lĩnh vực quản trị đô thị, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Việc thiếu cơ chế thí điểm, thử nghiệm có kiểm soát làm giảm khả năng phản ứng chính sách nhanh của Thủ đô trước các vấn đề mới phát sinh.

Luật Thủ đô chưa quy định thiết chế điều phối vùng có thẩm quyền thực chất, ổn định và đủ mạnh; đồng thời, chưa có cơ chế pháp lý rõ ràng để phân bổ, huy động và điều phối nguồn lực cho các chương trình, dự án liên kết vùng, trong khi lợi ích và tác động mang tính liên vùng. Điều này làm hạn chế vai trò trung tâm, dẫn dắt của Thủ đô và ảnh hưởng đến hiệu quả triển khai các dự án liên kết vùng.

Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND thành phố Hà Nội Dương Đức Tuấn cho biết, qua rà soát đánh giá, Luật Thủ đô số 39/2024/QH15 với 7 chương, 54 điều đến nay đã có 5 điều bị bãi bỏ toàn bộ; 10 điều bị bãi bỏ một phần, sửa đổi, bổ sung về nội dung.

Các điều đang có hiệu lực thì nhiều nội dung không còn là cơ chế đặc thù, vượt trội, do các luật, nghị quyết ban hành sau đã kế thừa đưa vào quy định của pháp luật và có nội dung quy định thuận lợi hơn; một số quy định đặc thù hiện nay cho các địa phương, quy định đặc thù cho một số dự án lớn, quan trọng đã có những cơ chế, chính sách rất thuận lợi, vượt trội để triển khai thực hiện.

Đồng thời, một số điều khoản không còn phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, việc sáp nhập, thay đổi địa giới hành chính các tỉnh (như quy định về vùng Thủ đô).

Quy định của Luật Thủ đô hiện hành cần kịp thời thể chế hóa những chủ trương, chính sách lớn của Đảng theo tinh thần dự thảo văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, 7 nghị quyết trụ cột của Bộ Chính trị trong thời gian qua, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XVIII, giải quyết triệt để 5 “điểm nghẽn” của Thủ đô, hướng tới việc hoàn thiện thể chế đặc biệt, vượt trội, ổn định, có tầm nhìn dài hạn, phù hợp với vị trí, vai trò, tính chất riêng có của Thủ đô; đưa thể chế, pháp luật về Thủ đô trở thành lợi thế cạnh tranh, nền tảng vững chắc, động lực mạnh mẽ cho phát triển, tạo dư địa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế “hai con số”.

Tổng hợp kết quả rà soát, đánh giá cho thấy, phần lớn nội dung trong 49 điều đang có hiệu lực cần thiết phải sửa đổi, bổ sung cơ bản nội dung của 34 điều và cập nhật thêm nhiều nội dung mới cần đưa vào quy định trong Luật Thủ đô.

Đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Thủ đô và các cơ chế, chính sách mới

UBND Thành phố đã chỉ đạo rà soát, nghiên cứu, bước đầu đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Thủ đô hiện hành và bổ sung cơ chế, chính sách mới gồm 4 nhóm nội dung lớn với 31 cơ chế, chính sách cụ thể được xây dựng trong Đề cương dự thảo Luật với 5 chương, 41 điều.

hn2.jpg
Hà Nội đề xuất cơ chế, chính sách sửa đổi Luật Thủ đô. Ảnh: Quang Hùng

Cụ thể, về vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Thủ đô: Khẳng định địa vị pháp lý đặc thù của Thủ đô là trung tâm chính trị - hành chính quốc gia; nơi đặt trụ sở của các cơ quan Trung ương Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan đại diện ngoại giao, tổ chức quốc tế; là trung tâm lớn về kinh tế; dẫn đầu cả nước, vươn tầm khu vực và quốc tế về văn hóa, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, giáo dục, y tế và giao dịch quốc tế.

Khẳng định giá trị pháp lý của Luật Thủ đô là luật cơ bản, có tính chất đặc thù được ưu tiên áp dụng tại Thủ đô. Thành phố được lựa chọn áp dụng quy định của pháp luật thuận lợi cho phát triển Thủ đô ở các luật ban hành sau Luật Thủ đô có quy định khác về cùng một vấn đề. Văn bản quy định chi tiết, văn bản thi hành Luật Thủ đô được quy định khác với các văn bản quy phạm pháp luật của Trung ương.

Về thẩm quyền: Tiếp tục phân quyền mạnh mẽ, toàn diện cho Thủ đô được chủ động, tự quyết, tự chịu trách nhiệm trong các lĩnh vực như sau: Chủ động quyết định về tổ chức, bộ máy, biên chế, tiền lương, thu nhập; chính sách phát triển, thu hút, sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao. Giao quyền xây dựng, ban hành thể chế, chính sách; được chủ động trong cơ cấu thu, chi ngân sách, quyết định các khoản tín dụng, lập các quỹ tài chính để phục vụ đầu tư phát triển. Giao thẩm quyền toàn diện Thành phố trong phê duyệt dự án đầu tư, phương thức lựa chọn nhà đầu tư, nhà thầu, cơ chế thông thoáng, linh hoạt về giải ngân đầu tư. Thành phố được quyết định các hình thức xã hội hóa, hợp tác công - tư, cơ chế mới trong khai thác tài sản công, công trình, hạ tầng công.

Giao Thành phố chủ động ban hành cơ chế quản lý, sử dụng, khai thác tài nguyên rừng, tài nguyên nước, tài nguyên khác; được chủ động quyết định tỷ lệ, cơ cấu sử dụng đất, việc chuyển đổi cơ cấu đất nông nghiệp và đất khác; biện pháp tái điều chỉnh đất đai; biện pháp bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; giao đất, cho thuê đất.

Về quản trị, xây dựng, phát triển và bảo vệ Thủ đô: Đổi mới phương thức quản trị Thủ đô hiện đại dựa trên công nghệ số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo; quy định rõ cơ chế tích hợp, chia sẻ, khai thác dữ liệu; cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính gắn với chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm trong quản lý đầu tư - kinh doanh và một số lĩnh vực phù hợp.

Các lĩnh vực kinh tế - xã hội, khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo: Giao Thành phố được chủ động ban hành cơ chế, chính sách, mô hình phát triển mới trong các lĩnh vực: Khoa học và công nghệ, văn hóa, giáo dục đào tạo, y tế, an sinh xã hội; giao thẩm quyền cho Thành phố trong việc quản lý, cấp phép; chủ động quyết định áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc tế; ban hành quy chuẩn, tiêu chuẩn riêng áp dụng trên địa bàn; được ban hành định mức, chế độ chi ngân sách, định mức kinh tế - kỹ thuật, đơn giá, giá dịch vụ áp dụng cho Thủ đô khác quy định, hoặc chưa có trong quy định của Trung ương.

Giao Thành phố quyền chủ động trong việc ban hành cơ chế, chính sách, biện pháp lập, quản lý, thực hiện quy hoạch; Quy hoạch tổng thể Thủ đô có tính chất dẫn dắt, chi phối quy hoạch các tỉnh trong vùng, nội dung được cập nhật, điều chỉnh quy hoạch ngành quốc gia, quy hoạch vùng. Thành phố chủ động trong xây dựng cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển đô thị xanh, thông minh, phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD) và cải tạo, chỉnh trang, tái thiết đô thị.

Về mô hình, loại hình kinh tế mới: Giao Thành phố chủ động ban hành thể chế, tổ chức triển khai trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do, kinh tế ban đêm, kinh tế bạc, kinh tế tầm thấp. Phát triển mạnh mẽ đô thị Hòa Lạc thành đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt về công nghệ, giáo dục đào tạo với các cơ chế, chính sách thuận lợi, thông thoáng về thủ tục đầu tư kinh doanh; các ưu đãi, hỗ trợ đầu tư vượt trội; môi trường thuận lợi về thử nghiệm công nghệ, mô hình mới, về giao dịch công nghệ; thuận lợi về xuất nhập cảnh, cư trú, sở hữu tài sản… để thu hút đầu tư, nguồn nhân lực chất lượng cao về khoa học công nghệ.

Thành phố được quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp đặc thù về bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ môi trường, áp dụng biện pháp hành chính cấp bách phù hợp với vị trí, vai trò của Thủ đô.

Đối với vùng Thủ đô: Định hình rõ thể chế liên kết phát triển vùng Thủ đô, vùng Đồng bằng sông Hồng, vùng trung du và miền núi phía Bắc với Hà Nội là hạt nhân, trung tâm phát triển vùng; thể chế về liên kết hạ tầng giao thông, hạ tầng chung cho vùng (nước sạch, thoát nước, xử lý chất thải, năng lượng,..), liên kết trong các lĩnh vực kinh tế xã hội, xử lý ô nhiễm, bảo vệ môi trường bền vững, kiểm soát an toàn thực phẩm. Thành lập Ủy ban điều phối phát triển vùng với nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể; lập Quỹ phát triển vùng Thủ đô.

Xem thêm

Nông dân gửi trọn kỳ vọng vào Đại hội IX: Chờ đợi các giải pháp đột phá, khơi thông nguồn lực làm giàu

Nông dân gửi trọn kỳ vọng vào Đại hội IX: Chờ đợi các giải pháp đột phá, khơi thông nguồn lực làm giàu

(CLO) Hơn bao giờ hết, bà con đặt trọn niềm tin và kỳ vọng Đại hội sẽ tập trung làm rõ những vấn đề cấp thiết nhất của lĩnh vực "tam nông", từ đó đưa ra những quyết sách mang tính đột phá để khơi thông mọi nguồn lực, tháo gỡ những rào cản hiện tại và giúp người nông dân hiện thực hóa khát vọng vươn lên làm giàu chính đáng.

Việt Nam - Lào: Mối quan hệ đặc biệt hiếm có, ngày càng được củng cố và phát triển thực chất

Việt Nam - Lào: Mối quan hệ đặc biệt hiếm có, ngày càng được củng cố và phát triển thực chất

(CLO) Nguyên Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Bounnhang Vorachith từng nhiều lần nhấn mạnh quan hệ Việt Nam - Lào là quan hệ đặc biệt của đặc biệt, có một không hai trên thế giới, không sử sách nào có thể viết đủ về mối quan hệ đặc biệt Lào - Việt Nam. Và giờ đây, mối quan hệ ấy tiếp tục được củng cố và phát triển thực chất, hiệu quả trên tất cả các lĩnh vực.

Bộ Khoa học và Công nghệ bãi bỏ 21 thủ tục hành chính, giao 9 thủ tục mới về địa phương

Bộ Khoa học và Công nghệ bãi bỏ 21 thủ tục hành chính, giao 9 thủ tục mới về địa phương

(CLO) Bộ Khoa học và Công nghệ vừa ban hành Quyết định số 2669/QĐ-BKHCN công bố các thủ tục hành chính mới, sửa đổi, bổ sung và bãi bỏ trong lĩnh vực tiêu chuẩn đo lường chất lượng. Việc điều chỉnh này nhằm cụ thể hóa chủ trương cắt giảm rườm rà, đẩy mạnh phân cấp quản lý nhà nước.

Việt Nam phấn đấu đạt 55 tỷ USD/năm doanh thu xuất khẩu sản phẩm và dịch vụ công nghệ số vào năm 2030

Việt Nam phấn đấu đạt 55 tỷ USD/năm doanh thu xuất khẩu sản phẩm và dịch vụ công nghệ số vào năm 2030

(CLO) Đề án hỗ trợ, phát triển các doanh nghiệp công nghệ số vươn ra toàn cầu đặt mục tiêu đến năm 2030, phấn đấu có tối thiểu 5.000 doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam có doanh thu từ thị trường quốc tế, doanh thu xuất khẩu sản phẩm và dịch vụ công nghệ số của doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam đạt tối thiểu 55 tỷ USD/năm, với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt tối thiểu 30%/năm.

Đoàn kiểm tra, giám sát của Bộ Chính trị, Ban Bí thư làm việc với Tỉnh ủy Ninh Bình

Đoàn kiểm tra, giám sát của Bộ Chính trị, Ban Bí thư làm việc với Tỉnh ủy Ninh Bình

(CLO) Chiều 5/6, Đoàn kiểm tra, giám sát số 18 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư do đồng chí Nguyễn Duy Ngọc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương làm Trưởng đoàn, đã làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Ninh Bình, để thông qua dự thảo báo cáo kết quả kiểm tra (đợt 2).

Thông qua dự thảo báo cáo kết quả kiểm tra đợt 2 đối với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang

Thông qua dự thảo báo cáo kết quả kiểm tra đợt 2 đối với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang

(CLO) Chiều 5/6, Đoàn kiểm tra số 20 của Bộ Chính trị do Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Trịnh Văn Quyết làm Trưởng đoàn đã làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang để thông qua dự thảo báo cáo kết quả kiểm tra, giám sát đợt 2.

Lấy mẫu ADN gần 6.000 phần mộ liệt sĩ chưa xác định danh tính

Lấy mẫu ADN gần 6.000 phần mộ liệt sĩ chưa xác định danh tính

(CLO) Ngày 5/6, Ban Chỉ đạo tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ tỉnh Quảng Trị tổ chức triển khai lấy mẫu, số hóa thông tin và bàn giao mẫu hài cốt liệt sĩ tại Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Đường 9, phục vụ công tác giám định ADN, xác định danh tính các liệt sĩ còn thiếu thông tin.

'Cao Bằng khó khăn về nguồn lực nhưng không được khó về quyết tâm và cách làm'

'Cao Bằng khó khăn về nguồn lực nhưng không được khó về quyết tâm và cách làm'

(CLO) Làm việc với UBND tỉnh Cao Bằng về xây dựng trường phổ thông nội trú liên cấp, Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu nhấn mạnh: Cao Bằng khó khăn về nguồn lực, nhưng không được khó về quyết tâm và cách làm và cho rằng nguồn lực ít thì càng phải sử dụng đúng chỗ. Trường nào yếu nhất, học sinh nào khó khăn nhất, môn học nào thiếu nhất thì phải được ưu tiên trước.

Công đoàn Việt Nam đặt mục tiêu xây hơn 10.700 căn hộ cho công nhân

Công đoàn Việt Nam đặt mục tiêu xây hơn 10.700 căn hộ cho công nhân

(CLO) Ngay sau phiên bế mạc Đại hội XIV Công đoàn Việt Nam nhiệm kỳ 2026 – 2031, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã tổ chức họp báo thông tin về kết quả của Đại hội. Trong đó, đáng chú ý nhất là mục tiêu xây dựng hơn 10.700 căn nhà ở xã hội cho công nhân thuê.

Cỡ chữ bài viết: