Dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc Việt Nam đã giành được những thắng lợi vẻ vang: Từ thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đến thắng lợi của hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp (1945 - 1954) và đế quốc Mỹ (1954 - 1975), cho đến xây dựng một nước Việt Nam hội nhập, không ngừng phát triển như ngày nay.
Những thắng lợi vĩ đại ấy, có ý nghĩa lịch sử và thời đại sâu sắc, bắt nguồn từ đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng; trước hết là việc hoạch định cương lĩnh đúng đắn, sáng tạo, có tính hiện thực cao; cùng với đó là sự đoàn kết, nhất trí một lòng của toàn Đảng, toàn dân, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, giàu mạnh.
"Điểm mấu chốt, sống còn quan trọng nhất để quyết định những thành tựu trong đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, cũng như trong xây dựng và phát triển đất nước chính là vai trò lãnh đạo của Đảng. Vai trò lãnh đạo của Đảng thể hiện đầu tiên là năng lực của Đảng trong hoạch định đường lối, chủ trương của cách mạng… Chúng ta có Đảng mạnh, có nhân dân đoàn kết và tin tưởng, có những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội để mang lại tiềm lực kinh tế, cải thiện toàn diện đời sống nhân dân, có uy tín thế giới lớn, nâng tầm đất nước trên trường quốc tế. Những yếu tố ấy tạo thành một thế nước bền vững, mở ra cơ hội lớn cho sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới, sánh vai với các cường quốc 5 châu…"- GS.TS. Tạ Ngọc Tấn - nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương.
Từ đấu tranh giải phóng đến xây dựng quốc gia phát triển
Mùa xuân năm 1930, tại Cửu Long, Hương Cảng (Trung Quốc), đồng chí Nguyễn Ái Quốc, với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản, đã tổ chức Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một Đảng duy nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đại hội đại biểu lần thứ I của Đảng, tổ chức tháng 3/1935, có vai trò rất quan trọng khi vạch ra con đường đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, xác định 3 nhiệm vụ chủ yếu trước mắt: củng cố và phát triển Đảng; đẩy mạnh cuộc vận động quần chúng; chống chiến tranh đế quốc.
Tháng 2/1951, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II - Đại hội duy nhất được tổ chức trong 9 năm trường kỳ kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954) - có ý nghĩa lịch sử đặc biệt khi đưa ra những quyết sách đúng đắn, góp phần đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đi đến thắng lợi với chiến dịch Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” năm 1954.
Đại hội II quyết định đưa Đảng ra hoạt động công khai, lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam. Đây là Đại hội của khối đại đoàn kết toàn dân, trong đó Đảng Lao động Việt Nam là hạt nhân, tập hợp rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân, hướng tới một mục tiêu cao nhất: Giải phóng dân tộc.
Đại hội III của Đảng diễn ra tháng 9/1960 - kỳ Đại hội duy nhất trong 21 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam (1954 - 1975). Đại hội đã đưa ra quyết định lớn: Cùng lúc thực hiện hai chiến lược cách mạng, vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa đấu tranh giải phóng miền Nam; chỉ rõ con đường duy nhất của cách mạng Việt Nam là cầm súng đứng lên, giải phóng hoàn toàn miền Nam bằng bạo lực cách mạng. Những quyết sách đúng đắn của ba kỳ Đại hội đầu đã giúp Đảng ta chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng, đất nước hoàn toàn thống nhất.
Tháng 12/1976, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV được tổ chức tại Thủ đô Hà Nội. Đây là Đại hội toàn thắng của sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, mở ra thời kỳ cả nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đại hội IV quyết định đổi tên Đảng Lao động Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đại hội V của Đảng, tổ chức tháng 3/1982, xác định hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới là: Xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đồng thời chỉ rõ mối quan hệ mật thiết giữa hai nhiệm vụ chiến lược ấy trong tình hình mới.
Đổi mới toàn diện đất nước
Một trong những kỳ Đại hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng là Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, diễn ra tháng 12/1986. Đại hội đã quyết định đường lối đổi mới đất nước. Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, Đại hội VI thẳng thắn chỉ ra những tồn tại, hạn chế của mô hình kinh tế hiện vật, kế hoạch, phi hàng hóa, phi thị trường; đồng thời nhấn mạnh yêu cầu phải đổi mới toàn diện, trong đó trước hết là đổi mới tư duy, đặc biệt là tư duy kinh tế.
Đây là bước đột phá quan trọng trong tư duy lý luận của Đảng, tạo tiền đề cho việc triển khai đồng bộ các giải pháp đổi mới trên mọi lĩnh vực, nhất là kinh tế, chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Theo sử gia Đặng Phong đánh giá, nhiều sáng kiến “phá rào” từ địa phương chính là mầm mống thực nghiệm, tạo nền tảng cho quyết định đổi mới tại Đại hội VI.
Sau đó, Đại hội lần thứ VII của Đảng (6/1991) diễn ra trong bối cảnh hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa lâm vào cuộc khủng hoảng toàn diện và sâu sắc, công cuộc cải tổ ở Liên Xô gặp nhiều khó khăn. Đại hội VII để lại dấu ấn lớn với việc lần đầu tiên thông qua “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” ở nước ta. Đại hội chủ trương tiếp tục đổi mới toàn diện và đồng bộ, đưa công cuộc đổi mới đi vào chiều sâu, với bước đi vững chắc. Việt Nam đã từng bước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng và kéo dài hơn 15 năm, khẳng định đường lối đổi mới được đề ra tại Đại hội VI là hoàn toàn đúng đắn.
Các kỳ Đại hội VIII đến Đại hội XI tiếp tục đường lối đổi mới do Đại hội VI đề ra; Tổng kết những vấn đề lý luận và thực tiễn trong quá trình đổi mới; rút ra bài học kinh nghiệm, định hướng nhận thức và hành động trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể.
Đại hội XI của Đảng (1/2011) tiến hành tổng kết Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2001 - 2010) và 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trên cơ sở đó, Đại hội quyết định Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011).
Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đã nỗ lực phấn đấu, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm đã đề ra. Những kết quả đạt được có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, không chỉ tạo dấu ấn nổi bật, là điểm tựa cho những năm tiếp theo, mà còn tạo niềm tin, khí thế mới để toàn Đảng, toàn quân, toàn dân vững vàng vượt qua khó khăn, tận dụng thời cơ, đưa đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới.
Đại hội XIII của Đảng họp từ ngày 25/1 đến ngày 1/2/2021 tại Thủ đô Hà Nội, được tổ chức vào thời điểm toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII, đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật; góp phần tô đậm những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của 35 năm đổi mới; 30 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991; 10 năm thực hiện Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2011 - 2020).
Đại hội XIII khẳng định những kết quả nổi bật và đi đến thống nhất nhận định: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đại hội đề ra phương hướng, nhiệm vụ 5 năm tới, đồng thời định hướng phát triển đến các mốc kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng và 100 năm thành lập nước. Tinh thần Đại hội là khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân.
Hướng tới Đại hội XIV - Khẳng định cơ đồ, vị thế và khát vọng Việt Nam hùng cường
Từ sau Đại hội XII, Đảng ta bước vào giai đoạn đổi mới lần hai, với trọng tâm là chỉnh đốn Đảng, chống tham nhũng và hoàn thiện thể chế. Những quyết sách của Đại hội XII không chỉ tạo chuyển biến mạnh mẽ trong xây dựng Đảng mà còn khôi phục niềm tin và tạo nền tảng để đất nước bước vào nhiệm kỳ XIII với tư thế mới, khí thế mới.
Đại hội XIII kế thừa và phát huy kết quả ấy, đưa tư duy phát triển lên một tầm cao mới: Khơi dậy khát vọng vươn lên, kiến tạo tầm nhìn dài hạn đến năm 2045, xác lập yêu cầu đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển xanh, nâng cao năng lực quản trị quốc gia. Đại hội XIII giống như “bản lề chiến lược” kết nối thành tựu 35 năm đổi mới với hành trình hướng tới Việt Nam hùng cường.
Theo mục tiêu cao nhất, đưa đất nước tiến lên CNXH, Đại hội XIV sẽ tiếp tục mạch chảy đó, là bước chuyển quan trọng từ hoạch định mục tiêu sang triển khai hành động mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn.
Trong bài diễn văn tại Lễ kỷ niệm 80 năm Quốc khánh nước CHXHCN Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2025), Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: Tổ quốc Việt Nam là kết tinh của truyền thống văn hiến nghìn năm dựng nước và giữ nước; của bản lĩnh kiên cường, trí tuệ, lòng nhân ái và khát vọng vươn lên.
Tinh thần ấy đã hun đúc nên sức mạnh vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám; của hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân, đế quốc; của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong hòa bình; của sự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế và phát triển đất nước. Đó là sức mạnh bắt nguồn từ nhân dân, thuộc về nhân dân, vì nhân dân; sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện.
Tinh thần ấy cũng chính là nền tảng và nguồn cảm hứng cho Đại hội XIV của Đảng, một kỳ Đại hội được tổ chức trong bối cảnh đặc biệt, khi đất nước bước vào giai đoạn hội nhập sâu rộng, kinh tế số và chuyển đổi xanh đang mở ra những cơ hội cũng như thách thức mới.
Đại hội XIV không chỉ là dịp tổng kết thành tựu nhiệm kỳ trước, mà còn là khoảnh khắc khơi dậy khát vọng phát triển đất nước hùng cường, thịnh vượng, hạnh phúc, định hướng cho những chiến lược dài hạn đến năm 2045, nhân kỷ niệm 100 năm thành lập nước.
Đại hội XIV tiếp tục khẳng định vai trò tiên phong, bản lĩnh lãnh đạo sáng suốt của Đảng, nhấn mạnh việc đổi mới tư duy, sáng tạo thể chế, phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân, đồng thời đề cao trách nhiệm thế hệ lãnh đạo hôm nay trong việc đưa Việt Nam từ vị thế cường quốc khu vực lên tầm cường quốc thế giới.
Đây là dấu mốc quan trọng, kết hợp giữa truyền thống cách mạng kiên định và tư duy đổi mới, hội nhập hiện đại, giúp dân tộc Việt Nam vững bước trên con đường phát triển bền vững, vượt qua mọi thách thức, tận dụng tối đa thời cơ từ thế giới đang biến động.
Trải qua 95 năm xây dựng và trưởng thành, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo đất nước đi qua 13 kỳ Đại hội Đảng - 13 dấu mốc quan trọng khẳng định bản lĩnh, trí tuệ và tầm nhìn chiến lược của Đảng. Lịch sử chứng minh, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, cách mạng Việt Nam đã vượt qua mọi thử thách, giành độc lập, thống nhất đất nước, tiến hành đổi mới và đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đây là nền tảng vững chắc để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân bước vào Đại hội XIV với khát vọng xây dựng một Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc.
Tiến sỹ Nguyễn Viết Chức - nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội đánh giá: "Đại hội XIV mang ý nghĩa đánh dấu một thời kỳ phát triển mới, đòi hỏi tư duy mới, cách làm mới, sự chuẩn bị mới để đáp ứng yêu cầu phát triển. Do đó, công tác xây dựng Đảng phải thường xuyên, quyết liệt. Với Đại hội XIV, đột phá lớn nhất nằm ở đổi mới tư duy và phong cách lãnh đạo của Đảng. Đồng chí Tổng Bí thư nhiều lần yêu cầu đổi mới phong cách lãnh đạo như nhiệm vụ số một".
