3 thách thức của Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”

(CLO) Theo ông Vũ Vĩnh Phú, 13 năm thực hiện Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” không phải một chặng đường dài, cũng không quá ngắn, nhưng đủ để rút ra nhiều bài học sâu sắc, từ đó đưa hàng Việt Nam tiếp tục phát triển hơn nữa ngay trên sân nhà.

Thành quả và thách thức của “Cuộc vận động người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”

Sau 13 năm thực hiện “Cuộc vận động người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, ngày càng nhiều sản phẩm “made in Việt Nam” đã được người tiêu dùng trong nước đón nhận và tin dùng.

3 thach thuc cua cuoc van dong nguoi viet nam uu tien dung hang viet nam hinh 1

Theo báo cáo của Ban chỉ đạo Cuộc vận động, hàng Việt đã chiếm tỷ lệ trên 90% trong các cơ sở phân phối của các doanh nghiệp trong nước, còn tại các hệ thống siêu thị nước ngoài ở Việt Nam, tỷ lệ này chiếm khoảng 60% - 96%. Tại kênh bán lẻ truyền thống, tỷ lệ hàng Việt tại các chợ, cửa hàng tiện lợi chiếm từ 60%.

Trao đổi với phóng viên Báo Nhà báo và Công luận, ông Vũ Vĩnh Phú, chuyên gia thương mại cho rằng: 13 năm thực hiện Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” không phải một chặng đường dài, cũng không quá ngắn, nhưng đủ để rút ra nhiều bài học sâu sắc, từ đó đưa hàng Việt Nam tiếp tục phát triển hơn nữa ngay trên sân nhà.

Theo ông Phú, nhờ vào Cuộc vận động này, nhiều sản phẩm “made in Việt Nam” đã được công chúng biết tới, gắn kết người tiêu dùng với người sản xuất. 

Đồng thời, Cuộc vận động đã có tiến bộ, khi có chủ chương đưa hàng Việt Nam lên các sàn thương mại điện tử, tiếp cận tới người tiêu dùng trẻ đang rất có tiềm năng.

Dù vậy, theo ông Phú, việc triển khai Cuộc vận động vẫn có một số bất cập cần phải rút kinh nghiệm và phải thay đổi.

Thứ nhất, hàng Việt Nam đang bị lẫn với hàng Trung Quốc, hàng nước ngoài ở các kênh phân phối nhỏ, như tại các chợ, các cửa hàng tiện lợi nhỏ lẻ.

“Tại các chợ truyền thống, việc người tiêu dùng bị lẫn giữa hàng Việt Nam hay hàng nước ngoài, hoặc hàng sạch hay hàng không sạch đang là vấn đề nan giải. Chỉ khi họ đến các điểm bán uy tín mới mua được hàng Việt Nam chất lượng cao, còn ra chợ, rất khó để kiểm định được nguồn gốc, chất lượng sản phẩm”, ông Phú nói.

Thứ hai, việc tổ chức thực hiện chưa tốt. Việc đưa hàng Việt tới các điểm tiêu thụ tập trung còn đang khó khăn.

Về vấn đề này, ông Phú phân tích: Khách du lịch khi tới Hà Nội, Nha Trang hay TP.HCM muốn mua quà lưu niệm, hay những món quà đặc sản quê hương nhưng không biết mua ở đầu, vì các địa phương này chưa phát triển được các điểm tiêu thụ tập trung uy tín. Nếu ra chợ, hay ra các cửa hàng ven đường, người tiêu dùng có tâm lý sợ có đúng là hàng chất lượng hay không.

“Về vấn đề này, Đà Nẵng là đang thực hiện tương đối tốt. Mô hình của Đà Nẵng là phát triển các cửa hàng kinh doanh các đặc sản tại địa phương. Bên cạnh đó, một số cửa hàng miễn thuế ở sân bay cũng được coi là kênh phân phối hàng Việt đáng đồng tiền bát gạo. Do đó, 2 mô hình này cần được nhân rộng, để hàng hóa Việt Nam đến được với khách du lịch, kể cả khách nội địa lẫn quốc tế”, ông Phú nhấn mạnh.

Thứ ba, các cơ sở sản xuất hàng Việt, nhất là nhóm hàng nông sản đang bị thua thiệt về lợi nhuận. Người nông dân bị thiệt thòi. Điều này liên quan tới cơ chế độc quyền của các hệ thống phân phối.

3 thach thuc cua cuoc van dong nguoi viet nam uu tien dung hang viet nam hinh 2

Ông Phú nói: Việc các cơ sở, doanh nghiệp sản xuất hàng Việt khi đưa sản phẩm vào siêu thị rất khó. Bởi, các siêu thị, các đơn vị bán lẻ hay sử dụng chiêu ép giá, ép chiết khấu, chiếm dụng vốn. 

“Trong một cuộc hội thảo, một chuyên gia trong lĩnh vực nông nghiệp đã nói, lợi nhuận của các công ty sản xuất nông nghiệp hàng Việt Nam chỉ đạt 17%, trong khi phải chiết khấu đưa hàng vào các siêu thị dao động trong khoảng 25% - 30%. Đó là chưa kể, các công ty sản xuất còn gánh thêm các chi phí khác, như bị chiếm dụng vốn 25 - 30 ngày, thậm chí trong 2 - 3 tháng. Như vậy, bản thân người sản xuất không có lợi nhuận, thì làm sao có hàng Việt để phục vụ người dân Việt Nam. Đây là một vấn đề khá bất cập”, ông Phú chia sẻ.

Vì vậy, ông Phú cho rằng, sự bất bình đẳng trong lợi nhuận giữa người sản xuất hàng Việt và các kênh phân phối cần có sự can thiệp của các cơ quan quản lý Nhà nước. 

“Khi cơ quan Nhà nước can thiệp và trả lại lợi nhuận cho các doanh nghiệp sản xuất, các doanh nghiệp này sẽ có thêm động lực để đưa ra thị trường các sản phẩm tốt hơn nữa, để phục vụ nhu cầu tiêu dùng của người dân trong nước”, ông Phú nói.

Cần xây dựng sàn giao dịch nông sản

Trước những vấn đề trong việc triển khai Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, ông Phú kiến nghị Chính phủ, Bộ Công Thương và các địa phương cần tạo ra môi trường sản xuất kinh doanh công bằng, minh bạch. Theo đó, Chính phủ có thể xem xét, tham khảo mô hình kinh doanh ở Thái Lan và Hàn Quốc.

3 thach thuc cua cuoc van dong nguoi viet nam uu tien dung hang viet nam hinh 3

Ông Vũ Vĩnh Phú, chuyên gia thương mại.

Cụ thể, tại Thái Lan, nước này có quy định rất rõ trong chuỗi giá trị mía đường. Theo đó, lợi nhuận sau thuế của một cân mía đường được bán ra, người nông dân sẽ được hưởng 70%, các khâu trung gian sẽ được 30%.

Với Hàn Quốc, quốc gia này đã xây dựng hệ thống hạ tầng thương mại rất tốt. Họ có các sàn giao dịch nông sản, giá cả hàng hóa được công khai, minh bạch, không có hiện tượng ép giá, ép chiết khấu.

Bên cạnh đó, ông Phú đề nghị cơ quan quản lý nhà nước phải làm trọng tài về vấn đề lợi nhuận trong chuỗi giá trị sản xuất - phân phối. Thậm chí, ông Phú đề xuất, nhà nước có thể xem xét việc luật hóa về sự phân chia lợi nhuận này, nhất là nhóm hàng nông sản, thực phẩm “made in Việt Nam”.

Đồng thời, Chính phủ phải đẩy mạnh hơn nữa công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại để các doanh nghiệp sản xuất sống được với nghề.

Ông Phú nói: Hiện nay, xuất hiện nhiều thủ đoạn tinh vi đưa hàng hóa nước ngoài, nhập lậu, trốn thuế vào Việt Nam, trong đó, một trong những mặt hàng có số lượng nhập lậu nhiều nhất là đường thành phẩm, đang tràn lan thị trường. Nhờ vào giá thành rẻ, các loại đường thành phẩm đang lấn át thị phần hàng Việt Nam.

“Trong khi đó, hàng giả, hàng nhái cũng đang là vấn đề nhức nhối trong xã hội. Ngay tại Thổ Tang, Vĩnh Phúc hay La Phù, Hoài Đức, Hà Nội, hàng giả hàng nhái công khai sản xuất, buôn bán nhiều năm, không bị cơ quan chức năng xử lý, thử hỏi hàng Việt chân chính có lên được hay không. Do đó, để hàng Việt phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới, rất cần sự vào cuộc của các cơ quan chức năng trong vấn đề hàng giả, hàng nhái, hàng nhập lậu như hiện nay”, ông Phú nhấn mạnh.

Xem thêm

Hơn 60% doanh nghiệp Việt ứng dụng AI chăm sóc khách hàng

Hơn 60% doanh nghiệp Việt ứng dụng AI chăm sóc khách hàng

(CLO) Sáng 1/11, Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số tổ chức Hội nghị ứng dụng công nghệ phát triển cơ sở dữ liệu thương mại số với chủ đề “AI Commerce - Kiến tạo thế hệ tăng trưởng mới”. Hội nghị diễn ra trong khuôn khổ Hội chợ Mùa Thu lần thứ nhất - năm 2025.
Nông sản Việt: Mạnh xuất khẩu, khỏe nội địa

Nông sản Việt: Mạnh xuất khẩu, khỏe nội địa

(CLO) Với khí hậu nhiệt đới gió mùa, đất đai màu mỡ và nguồn nước dồi dào, Việt Nam sở hữu nhiều lợi thế tự nhiên để phát triển nông nghiệp. Trải qua quá trình chuyển đổi mạnh mẽ, nông sản Việt Nam không chỉ đa dạng về chủng loại mà còn ngày càng nâng cao về chất lượng và giá trị xuất khẩu.
Hà Nội có thêm 3 sản phẩm OCOP 5 sao

Hà Nội có thêm 3 sản phẩm OCOP 5 sao

(CLO) Trà Phúc, Trà Lộc, Trà Thọ do Công ty cổ phần Nông nghiệp công nghệ cao Thăng Long sản xuất là 3 sản phẩm mới nhất của thành phố Hà Nội được công nhận OCOP 5 sao.
Cỡ chữ bài viết: