(CLO) Cách đây tròn nửa thế kỷ, ngày 8/8/1967, các Bộ trưởng Ngoại giao của 5 nước Thái Lan, Philippines, Indonesia, Malaysia và Singapore - cùng ký vào bản Tuyên bố ASEAN, sáng lập ra Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á. Từ đó đến nay, ASEAN đã trải qua chặng đường phát triển với bao gian khó, thử thách nhưng cũng lưu dấu nhiều mốc son đáng nhớ, để đến hôm nay, được thế giới công nhận là một tổ chức hợp tác đa phương thành công nhất.Từ tuyên bố BangkokTừ sau năm 1945, sau khi giành được độc lập, nhiều nước Đông Nam Á đã có dự định thành lập một tổ chức khu vực nhằm tạo nên sự hợp tác phát triển trên các lĩnh vực kinh tế, khoa học kỹ thuật và văn hóa; đồng thời hạn chế ảnh hưởng của các nước lớn đang tìm cách biến Đông Nam Á thành “sân sau” của họ. Trong quá trình tìm kiếm sự hợp tác giữa các nước Đông Nam Á, nhiều tổ chức khu vực đã xuất hiện và một số hiệp ước giữa các nước trong khu vực được ký kết. Tháng 1/1959, Hiệp ước Hữu nghị và Kinh tế Đông Nam Á (SEAFET), gồm Malaysia và Philippines ra đời. Ngày 31/7/1961, Hiệp hội Đông Nam Á (ASA) - gồm Thái Lan, Philippines và Malaysia - được thành lập. Tháng 8/1963, một tổ chức gồm Malaysia, Philippines và Indonesia, gọi tắt là MAPHILINDO, được thành lập. Tuy nhiên, những tổ chức và Hiệp ước trên đây đều không tồn tại được lâu do những bất đồng giữa các nước về vấn đề lãnh thổ và chủ quyền. ASA, MAPHILINDO không thành công, nhưng nhu cầu về một tổ chức hợp tác khu vực rộng lớn hơn ở Đông Nam Á ngày càng lớn.Trong khi đó, sau Chiến tranh Thế giới thứ II, các trào lưu hình thành “chủ nghĩa khu vực” trên thế giới đã xuất hiện và cùng với nó là sự ra đời của Cộng đồng Kinh tế Châu Âu (EEC); Khu vực Thương mại Tự do Mỹ Latin (LAFTA); Thị trường chung Trung Mỹ (CACM)... Việc thành lập các tổ chức khu vực này đã tác động đến việc hình thành ASEAN. Từ kinh nghiệm của EEC, các nước Đông Nam Á đều thấy rằng việc hình thành các tổ chức khu vực sẽ giúp thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế thông qua tăng cường hợp tác kinh tế, buôn bán và phân công lao động. Về mặt chính trị, các tổ chức khu vực giúp củng cố tình đoàn kết khu vực và giúp các nước vừa và nhỏ có tiếng nói mạnh mẽ hơn trong các vấn đề quốc tế. Còn về mặt xã hội, chủ nghĩa khu vực có thể đưa ra các phương hướng hợp tác để giải quyết có hiệu quả các vấn đề đặt ra cho các nước thành viên.[caption id="attachment_176378" align="aligncenter" width="3543"] Các nhà lãnh đạo ASEAN tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 30 tại Philippines ngày 29/4/2017.[/caption]Sau nhiều cuộc thảo luận, ngày 8/8/1967, Bộ trưởng Ngoại giao các nước Indonesia, Thái Lan, Philippines, Singapore và Phó Thủ tướng Malaysia ký tại Bangkok bản Tuyên bố khai sinh Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).Từ 5 nước thành viên ban đầu, đến nay ASEAN đã có 10 quốc gia thành viên, gồm Indonesia, Thái Lan, Philippines, Singapore, Malaysia, Bruney (năm 1984), Việt Nam (năm 1995), Lào (năm 1997), Myanmar (năm 1997) và Campuchia (năm1999).Hiến chương ASEANTừ Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 10 (năm 2004), lãnh đạo các nước ASEAN đã nhất trí xây dựng bản Hiến chương ASEAN. Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 13 (năm 2007), đúng tròn 40 năm thành lập Hiệp hội, lãnh đạo các nước ASEAN đã ký thông qua Hiến chương ASEAN và ra Tuyên bố chung khẳng định quyết tâm hoàn tất việc phê chuẩn Hiến chương trong vòng một năm.Ngày 15/12/2008, Hiến chương ASEAN chính thức có hiệu lực sau khi được tất cả các nước thành viên ASEAN phê chuẩn. Đây là một sự kiện quan trọng, là bước ngoặt lịch sử của Hiệp hội trong hơn 40 năm hình thành và phát triển.Hiến chương ASEAN đánh dấu một bước chuyển mình cơ bản của Hiệp hội sang một giai đoạn mới, trở thành một tổ chức liên chính phủ, có tư cách pháp nhân và hoạt động dựa trên cơ sở pháp lý là Hiến chương ASEAN; đồng thời, phản ánh sự trưởng thành của ASEAN, thể hiện tầm nhìn và quyết tâm chính trị mạnh mẽ của các nước thành viên ASEAN, nhất là của các vị lãnh đạo, về mục tiêu xây dựng một ASEAN liên kết chặt chẽ, vững mạnh hơn, để hỗ trợ cho mục tiêu hòa bình và phát triển của cả khu vực cũng như của từng nước thành viên.Một cộng đồng chungTừ ý tưởng sơ khởi về một cộng đồng ASEAN trong Tuyên bố Hòa hợp Bali II (2003), với thực lực và nền tảng pháp lý đã có, với lộ trình xây dựng cộng đồng (2009-2015) được triển khai hiệu quả, ngày 31/12/2015, Cộng đồng ASEAN chính thức ra đời với ba trụ cột gồm Cộng đồng Chính trị - An ninh (APSC), Cộng đồng Kinh tế (AEC) và Cộng đồng Văn hóa - Xã hội (ASCC). Đây là sự kiện trọng đại và là dấu mốc quan trọng trong quá trình hợp tác phát triển của 10 nước thành viên ASEAN.Từ “Hiệp hội” tới “Cộng đồng”- đó là bước chuyển cơ bản về chất của ASEAN. Sự hình thành Cộng đồng không chỉ có ý nghĩa đối với chính phủ các nước ASEAN mà còn mang lại cho người dân các nước ASEAN nhiều lợi ích thiết thực. Hơn 630 triệu nhân dân Đông Nam Á được sống trong môi trường hòa bình, hữu nghị, các dân tộc đoàn kết, đùm bọc lẫn nhau và được hỗ trợ phát triển đồng đều. Các nền kinh tế với tổng GDP 2,48 nghìn tỷ USD tranh thủ một thị trường chung và cơ sở sản xuất thống nhất ngày càng tự do hóa về thương mại, đầu tư, dịch vụ, nguồn vốn và kết nối với các nền kinh tế phát triển trong và ngoài khu vực. Lực lượng lao động dồi dào được công nhận bằng cấp trong giáo dục cũng như kỹ năng nghề và có điều kiện di chuyển tự do hơn và tìm cơ hội việc làm thuận lợi hơn trong khu vực. Người dân được quan tâm hơn về điều kiện cuộc sống, được đảm bảo tốt hơn trước các nguy cơ về dịch bệnh lây lan và nâng cao khả năng thích ứng với tác động của biến đổi khí hậu. Nhân quyền và các quyền tự do cơ bản được thúc đẩy và bảo vệ. Văn hóa dân tộc truyền thống của mỗi nước được bảo tồn và phát huy cùng với việc Cộng đồng các quốc gia ASEAN chia sẻ bản sắc và giá trị chung.Những thành quả trong giai đoạn đầu xây dựng Cộng đồng là rất đáng khích lệ và tạo tiền đề cho chặng phát triển tiếp theo của ASEAN. Tuy nhiên, bối cảnh thế giới và khu vực cũng đang đặt ra không ít thách thức và yêu cầu mới cho ASEAN. Nhưng, nếu thực sự đoàn kết chung tay, nỗ lực, ASEAN ở tuổi 50- sẽ thực sự bước vào giai đoạn phát triển “vàng”, đầy những triển vọng tươi sáng.
[su_note note_color="#cde8fb" text_color="#0c0b0b"]Dấu ấn Việt Nam
Là thành viên có dân số lớn thứ 3 và diện tích đứng thứ 4 trong ASEAN, với vị trí địa chiến lược và kinh tế quan trọng ở Đông Nam Á, Việt Nam có vai trò quan trọng trong ASEAN và được các nước thành viên khác đặt nhiều kỳ vọng. Việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN năm 1995 đánh dấu bước ngoặt lớn đối với khu vực, mở ra một kỷ nguyên mới của hòa bình và hợp tác. 22 năm tham gia ASEAN, dù là thành viên đến sau, trình độ phát triển còn khoảng cách với nhiều nước, nhưng Việt Nam luôn thể hiện thiện chí và nỗ lực, nhiệt huyết và trách nhiệm, đóng góp không nhỏ vào thành tựu chung của ASEAN. Đó là nỗ lực của Việt Nam thúc đẩy kết nạp các nước Đông Nam Á còn lại để hình thành ASEAN-10. Đó là vai trò tích cực của Việt Nam trong xác định mục tiêu, phương hướng phát triển và hình thành các quyết sách lớn của ASEAN. Đó là dấu ấn Việt Nam trong các sự kiện lớn như Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 6 tại Hà Nội (12-1998), đảm nhiệm tốt nhiệm kỳ Chủ tịch ASEAN 2000-2001 và hoàn thành xuất sắc vai trò Chủ tịch ASEAN 2010 với những kết quả to lớn và thực chất (như mở rộng cấp cao Đông Á bao gồm tất cả các nước lớn ở khu vực, thành lập cơ chế hội nghị bộ trưởng quốc phòng mở rộng…). Đáng chú ý, Việt Nam là một trong 2 nước có tỉ lệ thực hiện cao nhất các biện pháp ưu tiên trong Kế hoạch tổng thể xây dựng cộng đồng kinh tế ASEAN. Việt Nam cũng có nhiều đóng góp quan trọng trong mở rộng quan hệ và đẩy mạnh hợp tác giữa ASEAN với các đối tác, đảm nhận thành công vai trò điều phối quan hệ ASEAN với Trung Quốc (2009-2012), EU (2012-2015), Ấn Độ (2015-2018). Tham gia ASEAN đã mang đến nhiều lợi ích và cơ hội để Việt Nam từng bước hội nhập với khu vực và quốc tế, nâng cao thực lực và cải cách trong nước, phát huy vai trò và vị thế của một quốc gia có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.[/su_note]
Nguyễn Hà