Tại các bản làng vùng cao của tỉnh Phú Thọ, câu chuyện thoát nghèo và vươn lên làm giàu từ chính nguồn gen bản địa đang trở thành hiện thực sống động. Điển hình và thuyết phục bậc nhất phải kể đến hành trình đánh thức tiềm năng của hạt lúa nếp Gà gáy Mỹ Lung.
Đây không chỉ là sự hồi sinh của một giống lúa quý, mà còn là minh chứng "người thật, việc thật" cho thấy khi đồng bào dân tộc thiểu số biết bắt tay cùng nhà khoa học, ứng dụng công nghệ số vào quản trị và thương mại hóa, nông sản vùng cao hoàn toàn có thể chinh phục những thị trường khó tính nhất.
Sức sống bền bỉ của "hạt ngọc" bản địa gắn liền với văn hóa người Mường
Theo các dữ liệu điều tra và thống kê nông nghiệp, từ những năm 1960 trở về trước, nếp Gà gáy đã được đồng bào Mường tại vùng thung lũng Mỹ Lung lưu giữ và gieo trồng như một đặc sản trứ danh của vùng quê huyện Yên Lập cũ.
Trong tâm thức của người Mường nơi đây, hạt lúa nếp tròn mẩy, màu trắng ngà, bóng bẩy không chỉ là lương thực mà còn kết tinh hồn cốt văn hóa được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Khi đem đồ xôi hoặc nấu cơm, gạo cho hạt xôi mềm, dẻo, tỏa hương thơm ngát và có vị đậm đà rất riêng biệt.
Tương truyền, hương vị quyến rũ ấy khiến những người con gái Mường đi lấy chồng xa mỗi dịp về thăm quê đều dậy từ lúc gà gáy canh đầu để đồ xôi mang theo làm quà, tạo nên tên gọi "nếp Gà gáy" mộc mạc mà sâu sắc.
Tuy nhiên, suốt một thời gian dài từ năm 1970 đến năm 2005, do phương thức duy trì giống chủ yếu dựa vào kinh nghiệm canh tác truyền thống và tự cung tự cấp, diện tích trồng nếp Gà gáy thu hẹp chỉ vỏn vẹn khoảng 5 ha, đứng trước nguy cơ thoái hóa và mai một. Bước ngoặt chỉ thực sự diễn ra khi các chương trình nghiên cứu khoa học bắt đầu vào cuộc để phục tráng và phát triển giống lúa này thành sản phẩm hàng hóa đặc trưng.
Sự vào cuộc của kỹ thuật canh tác mới đã tạo ra những bước nhảy vọt về quy mô sản xuất qua các thời kỳ. Ngay trong giai đoạn 2006 - 2008, diện tích gieo trồng đã tăng vọt lên 200 ha với sản lượng đạt khoảng 754 tấn.
Sau giai đoạn điều chỉnh quy hoạch vùng trồng vào năm 2019 với diện tích 80 ha và năng suất đạt 40 tạ/ha, đến năm 2022, diện tích sản xuất đã tăng trưởng trở lại lên mức 134,5 ha, năng suất nâng lên 42 tạ/ha, mang lại sản lượng 564 tấn.
Đặc biệt, đến năm 2024, tổng diện tích sản xuất nếp Gà gáy đã mở rộng đạt khoảng 250 ha và duy trì ổn định mức năng suất cao 42 tạ/ha, trở thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung mang lại sinh kế ổn định cho hàng trăm hộ dân tộc thiểu số.
Song hành với sự mở rộng về diện tích và sản lượng, uy tín của hạt gạo vùng cao này cũng liên tục được khẳng định qua hàng loạt giải thưởng và danh hiệu uy tín. Năm 2007, công trình nghiên cứu phục tráng và phát triển nếp Gà gáy Mỹ Lung vinh dự nhận Giải thưởng KOVA. Đến năm 2019, sản phẩm đoạt Cúp Vàng sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu cấp tỉnh.
Bước vào sân chơi Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP), nếp Gà gáy Mỹ Lung nhanh chóng đạt chuẩn OCOP 3 sao vào năm 2020 và xuất sắc nâng hạng lên OCOP 4 sao vào năm 2022.
Xen giữa chặng đường đó, vào năm 2021, sản phẩm tiếp tục được vinh danh là một trong 200 sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu cấp quốc gia. Những cột mốc ấn tượng này đã biến cái tên “Mỹ Lung” từ một địa danh thuần túy trở thành bảo chứng vàng cho chất lượng của một đặc sản miền núi Đất Tổ.
Giải mã "gen chất lượng" và bước ngoặt xác lập Chỉ dẫn địa lý
Khi danh tiếng của sản phẩm ngày càng vươn xa, cơ chế bảo hộ dưới hình thức Nhãn hiệu tập thể được thiết lập từ năm 2010 dần bộc lộ những khoảng trống trước yêu cầu bảo vệ chuyên sâu hơn về danh tiếng, chất lượng đặc thù và nguồn gốc địa lý.
Để nâng tầm hạt gạo bản địa lên một nấc thang pháp lý và thương mại cao hơn, Dự án khoa học và công nghệ cấp quốc gia “Đăng ký bảo hộ và quản lý Chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm nếp Gà gáy Mỹ Lung của tỉnh Phú Thọ” đã được triển khai xuyên suốt trong 54 tháng, từ tháng 1/2022 đến tháng 6/2026, với tổng kinh phí đầu tư 2,55 tỷ đồng.
Thay vì chỉ dựa vào những lời khen ngợi truyền miệng hay đánh giá cảm quan như trước, dự án đã sử dụng các phương pháp phân tích khoa học hiện đại để định lượng hóa giá trị của hạt gạo.
Qua quá trình phân tích chuyên sâu trên 61 mẫu gạo nếp Gà gáy Mỹ Lung, các nhà khoa học đã xác định được hàm lượng amylose trung bình đạt mức 4,99%. Đây chính là chỉ số vàng tạo nên độ dẻo vừa phải, giúp cơm và xôi khi chín có độ nở đẹp, mềm mại mà không hề bị bết dính, đặc biệt là vẫn giữ nguyên được độ dẻo thơm ngay cả khi đã để nguội.
Bên cạnh đó, kết quả kiểm nghiệm trên 60 mẫu gạo khác cũng ghi nhận hàm lượng protein thô trung bình đạt tới 8,12%, nằm ổn định trong khoảng giá trị đặc trưng từ 7,95% đến 8,28%, khẳng định giá trị dinh dưỡng vượt trội của giống lúa này so với các loại nếp thông thường trên thị trường.
Không dừng lại ở việc phân tích hạt gạo, nhóm nghiên cứu còn tiến hành điều tra kỹ lưỡng về thổ nhưỡng, nguồn nước và tiểu khí hậu vùng núi đá vôi đặc trưng để làm rõ mối liên hệ hữu cơ giữa chất lượng sản phẩm với vùng đất. Kết quả đã xác định chính xác vùng địa lý của Chỉ dẫn địa lý “Mỹ Lung” có quy mô rộng khoảng 300 ha, phân bố trên địa bàn 7 xã có điều kiện tự nhiên tương đồng.
Sau hành trình 54 tháng miệt mài nghiên cứu, điều tra thực địa và hoàn thiện hồ sơ pháp lý, ngày 30/6/2026, Cục Sở hữu trí tuệ đã chính thức ban hành Quyết định số 323/QĐ-SHTT, cấp Giấy chứng nhận đăng ký Chỉ dẫn địa lý “Mỹ Lung” cho sản phẩm nếp Gà gáy.
Quyết định này đã gắn kết chặt chẽ danh tiếng tích lũy qua nhiều thế hệ của đồng bào Mường với điều kiện tự nhiên độc đáo của vùng đất, tạo lập hành lang pháp lý vững chắc nhất để bảo vệ và phát huy giá trị đặc sản địa phương.
Đưa kinh tế số và quản trị chuỗi giá trị vào từng bao gạo vùng cao
Xác lập được quyền bảo hộ Chỉ dẫn địa lý đã khó, nhưng làm thế nào để tấm văn bằng ấy không nằm yên trong tủ kính mà thực sự biến thành tiền bạc, doanh thu cho người nông dân lại là bài toán lớn hơn. Giải quyết thách thức này, tỉnh Phú Thọ đã triển khai đồng bộ mô hình quản lý hiện đại kết hợp chặt chẽ giữa quản lý nhà nước và kiểm soát tập thể gắn liền với chuyển đổi số.
Ngay trước thời điểm nhận văn bằng bảo hộ, vào ngày 23/6/2026, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Phú Thọ đã ban hành Quyết định số 294/QĐ-SKHCN phê duyệt Quy chế quản lý Chỉ dẫn địa lý “Mỹ Lung” gồm 6 chương, 30 điều và 3 phụ lục.
Cùng với đó là cả một hệ thống văn bản quản trị chuẩn mực được hoàn thiện và chuyển giao về cơ sở, từ hướng dẫn ghi nhận quyền sử dụng, quy chuẩn tem nhãn, bao bì, quy trình kỹ thuật canh tác tiên tiến cho đến cuốn sổ tay hướng dẫn quản lý và sử dụng Chỉ dẫn địa lý.
Trong guồng máy vận hành này, các cơ quan chuyên môn giữ vai trò quản lý vùng sản xuất, giám sát quy trình kỹ thuật, chất lượng và thương mại; còn Hợp tác xã tại địa phương đóng vai trò hạt nhân trực tiếp kiểm soát nội bộ, quản lý xã viên, cấp phát tem nhãn, tổ chức chế biến và kinh doanh.
Từ nền tảng pháp lý đó, một mô hình sản xuất gạo nếp Gà gáy Mỹ Lung theo chuỗi giá trị khép kín có quy mô 50 ha đã được thiết lập với sự tham gia trực tiếp của Hợp tác xã và các hộ nông dân liên kết.
Điểm sáng nổi bật nhất của mô hình này là việc đưa công nghệ số vào từng khâu quản lý từ đồng ruộng đến bàn ăn. Toàn bộ hệ thống mã QR Code cùng tài khoản quản trị phần mềm truy xuất nguồn gốc đã được bàn giao trực tiếp cho Hợp tác xã và các đơn vị sản xuất để tích hợp lên bao bì, tem nhãn.
Giờ đây, người tiêu dùng ở bất cứ đâu chỉ cần dùng điện thoại thông minh quét mã QR là có thể kiểm tra minh bạch toàn bộ quy trình canh tác, vùng nguyên liệu và nguồn gốc chính hãng của sản phẩm.
Song song với việc số hóa quy trình quản lý chất lượng, hoạt động tiếp thị và mở rộng thị trường trên không gian mạng cũng được đẩy mạnh thông qua việc xây dựng và vận hành trang thông tin điện tử. Đây chính là "cửa ngõ số" giúp quảng bá câu chuyện văn hóa và chất lượng của hạt gạo người Mường tới đông đảo khách hàng và đối tác phân phối trên cả nước.
Sự kết hợp giữa chất lượng được bảo chứng bằng khoa học, thương hiệu được bảo hộ bởi pháp luật và phương thức kinh doanh hiện đại đã lập tức mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt. Vào tháng 4/2026, thông qua hội thảo kết nối tiêu thụ sản phẩm được tổ chức tại Việt Trì, các hợp tác xã của đồng bào vùng cao đã trực tiếp ngồi lại cùng các doanh nghiệp chế biến, nhà phân phối và hệ thống bán lẻ lớn.
Kết quả từ sự kiện xúc tiến thương mại này đã giúp thiết lập ngay một mạng lưới gồm 10 điểm bán hàng tiêu chuẩn tại thành phố Hà Nội và tỉnh Phú Thọ, trong đó riêng tại khu vực Việt Trì hình thành 5 điểm thương mại cố định.
Chỉ tính riêng đợt thử nghiệm thương mại hóa tại 10 điểm bán này, 20 tấn gạo nếp Gà gáy Mỹ Lung đạt chuẩn đã được tiêu thụ nhanh chóng với mức giá bán lẻ đạt khoảng 55.000 đồng/kg. Mức giá cao gấp gần ba lần so với lúa gạo thông thường này không chỉ mang về doanh thu hơn 1,1 tỷ đồng ngay trong đợt bán thử nghiệm, mà còn chứng minh sức hút mạnh mẽ và giá trị gia tăng vượt trội khi nông sản miền núi được đầu tư bài bản.
Nhìn nhận về ý nghĩa thực tiễn của mô hình này cũng như định hướng chiến lược trong giai đoạn tới, đồng chí Chu Thị Bích Thủy - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Phú Thọ, Chủ nhiệm Dự án khoa học và công nghệ cấp quốc gia “Đăng ký bảo hộ và quản lý chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm nếp Gà gáy Mỹ Lung của tỉnh Phú Thọ” nhấn mạnh: “Việc được bảo hộ Chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm nếp Gà gáy “Mỹ Lung” là bước khởi đầu quan trọng. Song nhiệm vụ quan trọng hơn chính là giữ gìn, bảo vệ và phát triển thương hiệu Chỉ dẫn địa lý Mỹ Lung. Do vậy, thời gian tới, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống quản lý, kiểm soát chặt chẽ vùng sản xuất và chất lượng sản phẩm; đẩy mạnh truy xuất nguồn gốc, ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, nâng cao năng lực chế biến, mở rộng hệ thống phân phối và thương mại điện tử, đưa giá trị Chỉ dẫn địa lý vào thực tiễn sản xuất, nâng cao giá trị hạt gạo, mở rộng thị trường và tạo sinh kế bền vững cho người dân”.
Từ những thửa ruộng nhỏ hẹp gieo cấy theo tập quán truyền thống của người Mường, hạt lúa nếp Gà gáy Mỹ Lung hôm nay đã đàng hoàng bước lên kệ hàng của các đô thị lớn với tem nhãn truy xuất nguồn gốc hiện đại và tấm văn bằng Chỉ dẫn địa lý danh giá.
Hành trình vươn mình của đặc sản vùng cao này chính là câu trả lời thuyết phục nhất cho bài toán phát triển kinh tế miền núi tại Phú Thọ: khi di sản bản địa được chắp cánh bởi khoa học công nghệ và kinh tế số, người nông dân dân tộc thiểu số hoàn toàn có thể làm giàu bền vững ngay trên chính mảnh đất quê hương mình.