Chiều 6/11, Quốc hội thảo luận tại hội trường về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.
Phân loại dự án theo mức độ rủi ro
Thừa ủy quyền của Thủ tướng, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng thay mặt Chính phủ báo cáo tiếp thu, giải trình về một số ý kiến các đại biểu nêu
Phó Thủ tướng cho biết, nhiều đại biểu đề cập đến điều kiện tiên quyết khi chuyển đổi mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm là không được buông lỏng quản lý môi trường và yêu cầu làm rõ yếu tố nhạy cảm của môi trường, bảo đảm phân cấp, phân quyền gắn với nguồn lực thực thi.
Tiếp thu ý kiến của nhiều đại biểu Quốc hội, Chính phủ xác định cải cách thủ tục hành chính phải gắn với phương thức quản lý, không chỉ đơn thuần là cắt giảm thủ tục kiểm tra.
Chính phủ đã chỉnh lý dự thảo, quy định cụ thể các tiêu chí phân loại dự án theo mức độ rủi ro về môi trường làm cơ sở áp dụng các thủ tục phù hợp, bảo đảm cắt giảm nhưng không giảm kiểm soát đối với các dự án có nguy cơ gây ô nhiễm cao.
Dự thảo tiếp tục quy định các yếu tố nhạy cảm về môi trường liên quan trực tiếp đến sức khỏe của Nhân dân. Đồng thời, bổ sung quy định về cơ chế giám sát nguy cơ gây ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường dựa trên thông tin, dữ liệu môi trường và công nghệ số; kết hợp kiểm tra thực tế để kịp thời phát hiện, cảnh báo nguy cơ ô nhiễm và xử lý khi lập.
Về nhóm vấn đề quản lý chất thải theo hướng kinh tế tuần hoàn, ưu tiên giảm phát sinh, tái sử dụng, tái chế, thu hồi năng lượng, phân loại chất thải rắn sinh hoạt.
Dự thảo đã hoàn thiện các quy định theo hướng đẩy mạnh, đổi mới tư duy quản lý chất thải, xem chất thải là tài nguyên, thống nhất nguyên tắc phân loại chất thải rắn sinh hoạt.
“Chính phủ sẽ quy định rõ lộ trình phân loại theo từng khu vực, làm rõ trách nhiệm của chính quyền, cấp tổ chức hạ tầng thu gom, vận chuyển, xử lý riêng đối với từng nhóm chất thải sau phân loại” – Phó Thủ tướng nhấn mạnh và cho biết sẽ bổ sung quy định về kiểm soát chất thải từ lưu vực sông, đất liền đáp ứng ý kiến của nhiều đại biểu.
Dự thảo quy định rõ về chất thải, phế liệu, vật liệu tái chế, tạo điều kiện đưa chất thải đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, trở lại là nguyên liệu sản xuất, ưu tiên tái sử dụng, tái chế và thu hồi năng lượng.
Về vấn đề phân định thẩm quyền quản lý giải quyết thủ tục hành chính gắn phân cấp tỉnh, cấp vùng và vai trò điều phối của cơ quan trung ương, tiếp thu các ý kiến đại biểu, dự thảo luật đã được rà soát, làm rõ cơ chế phối hợp giữa các địa phương trong quá trình thẩm định, báo cáo đánh giá tác động môi trường, cấp phép môi trường đối với các dự án có phạm vi liên tỉnh.
Đồng thời, xác định rõ vai trò điều phối, quản lý cung ứng các cơ quan thông qua quy hoạch, kế hoạch quản lý chất lượng môi trường nước, không khí, bảo đảm hài hòa lợi ích phát triển kinh tế giữa các địa phương và kiểm soát chặt chẽ các nguồn thải lớn có tính chất liên vùng.
Giám sát qua dữ liệu môi trường và công nghệ
Liên quan đến cơ chế bảo đảm tính độc lập, khách quan, độ chính xác và số liệu dữ liệu quan trắc môi trường, Phó Thủ tướng cho biết dự thảo Luật tiếp tục bổ sung, hoàn thiện các quy định nghiêm cấm các hành vi can thiệp, làm sai lệch thông tin, dữ liệu môi trường hoặc là cố ý ngắt kết nối dữ liệu.
Dự thảo Luật cũng quy định rõ trách nhiệm trực tiếp của chủ dự án các cơ sở trong việc bảo đảm tính chính xác, toàn vẹn và liên tục, có thể truy xuất.
Các tổ chức cung cấp dịch vụ quan trắc phải đáp ứng các tiêu chuẩn năng lực phù hợp, xây dựng hệ thống thông tin dữ liệu môi trường quốc gia thống nhất, liên thông.
Cơ quan soạn thảo tiếp thu ý kiến đại biểu, tăng cường hậu kiểm, xử lý nghiêm hành vi làm sai lệch số liệu, đồng thời tạo điều kiện để người dân cùng tham gia giám sát.
Về ứng phó biến đổi khí hậu, quản lý phát thải khí nhà kính và phát triển thị trường các-bon, Dự thảo Luật đã được rà soát, hoàn thiện theo hướng thống nhất phương pháp, quy trình, tần suất kiểm kê khí nhà kính phù hợp nhằm giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.
Dự thảo Luật cũng bổ sung quy định làm rõ quyền hưởng lợi và cơ chế chia sẻ lợi ích giữa các chủ thể, cộng đồng trực tiếp tham gia bảo vệ, phát triển rừng, bảo tồn hệ sinh thái và giảm phát thải.
Đối với trao đổi quốc tế kết quả giảm phát thải khí nhà kính, tín chỉ các-bon, Dự thảo luật quy định cụ thể nguyên tắc, đối tượng, điều kiện trao đổi, tỷ lệ chuyển giao và lượng tín chỉ tối thiểu phải giữ lại để thực hiện mục tiêu đóng góp do quốc gia quyết định.